Hiển thị các bài đăng có nhãn Meditation. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Meditation. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2021

10 lý do nên thiền mỗi ngày

Tác giả: Lê Đỗ Quỳnh Hương

Ở loạt video trong chuỗi bài Sống Thiền mà QH từng chia sẻ cho cả nhà thời gian qua, mình luôn nhấn mạnh một điều vô cùng cần thiết trong cuộc sống của mỗi người, đó chính là thực hành Thiền. Bạn đừng nghĩ Thiền là một điều gì có cao siêu, đơn giản đó chỉ là việc bạn ngồi im hít thở, quan sát từng hơi hít vào thở ra của chính mình và giữ cho tâm mình trong trạng thái tĩnh là đã đủ. Thế nhưng mình biết, trên thực tế, nhiều bạn dẫu biết được những lợi lạc mà Thiền mang lại cho mỗi người nhưng lại chưa đủ động lực để thực hành Thiền mỗi ngày. Vậy thì ngày hôm nay, QH và team sẽ chia sẻ lại cho nhà mình 10 lý do 'Tại sao bạn nên Thiền mỗi ngày', để bạn có thêm động lực bắt đầu. Đặc biệt là những ngày giãn cách xã hội như thế này, bạn đừng để khoảng thời gian này trôi qua một cách vô vị. Thay vào đó hãy quay vào bên trong, tái tạo năng lượng và ‘nâng cấp bản thân’ trong một phiên bản thật tươi mới, nhen!

Sau đây là 10 lý do để động viên bạn bắt đầu đưa Thiền vào một hoạt động mỗi ngày của bạn nè nha:



1️⃣ Giảm stress:

Lý do đầu tiên khi bạn thiền mỗi ngày bạn sẽ cảm nhận được, đó chính là GIẢM STRESS. Con người chúng ta gồm có ba thể Thân – Tâm – Trí. Trong đó, Trí não chính là một sợi kết nối giữa dòng năng lượng từ Vũ trụ thiên nhiên từ đất mẹ đi vào trong cơ thể bạn. Chính vì thế, khi bạn chịu ngồi yên hít thở, chỉ quan tâm đến hơi thở cũng là lúc bạn đang dọn dẹp gọn bớt đi những suy nghĩ rối rắm của mình. Điều này giống như cách bạn đang dọn dẹp khu vườn của bạn vậy đó. Khi khu vườn của bạn được tỉa lá, cắt gọn những cành không cần thiết, giảm đi những cây cối rậm rạp thì sẽ có những khe hở cho gió đi qua đúng không? Và luồng gió đó chính là luồng khi Prana (luồng dưỡng khí sống) sẽ đi vào trong con người bạn và nó sẽ giúp bạn gột rửa đi những năng lượng trượt, thu gọn bớt những suy nghĩ trong não bạn. Khi đó, bạn sẽ thấy tâm trạng của mình tươi mới hơn, những phiền muộn, áp lực của bạn cũng sẽ vơi đi rất nhiều. Bạn thử nha! 🤗

2️⃣ Nâng cao khả năng tập trung:

Khi xem các video chia sẻ về Thiền của chúng mình, nhiều bạn bảo: “Em không thể ngồi yên thiền được, vì đầu em lúc nào cũng suy nghĩ”. Thật ra điều này khá phổ biến với nhiều người khi mới bắt đầu thiền vì khi đó bạn chưa điều chỉnh được dòng suy nghĩ của mình.

Việc thiền tập mỗi ngày sẽ giúp cho bạn tập gom những suy nghĩ của bạn về một mối. Mình biết, đó không phải là chuyện dễ dàng trong ngày một, ngày hai. Suy nghĩ của bạn giống như một chú khỉ chuyền cành vậy đó, liên tục di chuyển theo kiểu bạn đang ngồi tĩnh tâm hít thở mà đầu bạn lại bắt đầu suy nghĩ: sáng nay mình ăn gì, hôm nay mình sẽ làm những gì, rồi nghĩ đến người thương mình, người ghét mình,… Những lúc bạn cảm thấy suy nghĩ của mình đang ‘lạc trôi’ thì hãy kéo về lại, tập trung quan sát những vòng hít vào – thở ra của suy nghĩ. Lúc này đây, việc quay trở lại trạng thái tĩnh, không suy nghĩ lung tung chính là lúc bạn đang tập cho mình khả năng nâng cao sự tập trung. Và đã có rất nhiều những nghiên cứu xác minh được rằng, các bạn học sinh, sinh viên nào chịu khó duy trì những thời thiền đều đặn mỗi ngày thì chất lượng học tập của các bạn cũng sẽ tốt hơn, điểm số bạn cao hơn và bạn có những khả năng bạn vượt qua các kỳ thi với những thành tích xuất sắc hơn rất nhiều. 💯💯

3️⃣ Giảm thiểu các vấn đề liên quan đến sức khoẻ tâm thần:

Lợi lạc thứ ba của việc thiền tập mỗi ngày chính là tạo cho bạn một lớp rào chắn để bảo vệ bạn khỏi những chứng rối loạn về tâm lý, thậm chí những bệnh trạng về tâm thần.

Như chúng ta đã biết, bộ não chúng ta gần như hoạt động liên tục và nhiều lúc nó sẽ bị quá tải với những suy nghĩ quá nhiều. Nhưng thật ra, bên trong mỗi người còn một cái ‘vốn’ rất lớn, mà không phải ai cũng biết. Có một tầng sâu hơn trên thể Thân và Trí, đó chính là thể Tâm. Và ở đó có một tầng Tàng thức hoặc Tiềm thức, tựa như một ‘hung thủ giấu mặt’ chứa đựng rất nhiều những tổn thương, những đau đớn, những chấp niệm hoặc là những điều người khác làm bạn đau khổ,… mà bạn không thanh tẩy rác tiềm thức thì có thể một ngày đẹp trời nào đó, khi bạn không đủ khoẻ, bạn không đủ sự tích cực thì lập tức những ‘hung thủ giấu mặt’ có hại cho tiềm thức của bạn sẽ bộc lộ lên và nó sẽ gây ra cho bạn chứng rối loạn về tâm lý. Thậm chí, nó có thể làm bạn phát điên lên nếu bạn không điều chỉnh được cảm xúc và suy nghĩ của mình.

Vậy thì thiền tập mỗi ngày giống như việc bạn đi quét dọn căn phòng của mình, mỗi ngày dọn hốt ra một ít rác. Và dần dà, nếu bạn duy trì điều ngày thường xuyên, thì rác trong bạn vơi dần, đến một ngày bạn sẽ nhận ra, dường như mình đã được dọn dẹp sạch sẽ, những thương tổn trong tiềm thức của bạn cũng đã được đưa ra ngoài. Lúc ấy, vẫn là bạn đó nhưng trong một phiên bản hoàn toàn khác, tâm trạng tốt hơn, tinh thần thoải mái hơn, sức khỏe tinh thần sẽ được cải thiện hơn.

4️⃣ Cải thiện cảm xúc:

Khi bạn thực hành thiền mỗi ngày sẽ làm cho bạn có một cảm xúc tươi mới và tích cực hơn rất nhiều. Như QH đã chia sẻ, mỗi người đều sẽ có ba phần thức. Phần đầu tiên đó chính là Ý Thức, chính là cái mà mình có thể kiểm soát được. Thức hai đó là phần Tiềm Thức hoặc là Tàng Thức, là phần ẩn sâu vào trong bóng tối mà mình không hề biết được để mình kiểm soát. Và phần thứ ba chính là Siêu Thức, là phần nằm sâu thẳm bên trong nội thân của mỗi người, mà khởi được phần này tỉnh thức, mình sẽ kết nối được với Vũ trụ bao la, như kết nối được với Nguồn mênh mông vô tận.

Thông thường, chúng ta hay nghĩ, phần Ý Thức sẽ quyết định mọi việc, nhưng thực chất điều đó không hoàn toàn đúng. Nếu chúng ta có thể kiểm soát được ý thức của mình, thì tại sao có những việc bạn không muốn làm mà bạn vẫn làm? Rồi cũng có những trường hợp, bạn biết khi bạn nói hay hành động như vậy là không đúng, nhưng bạn vẫn làm. Thật ra đó chính là do phần Tiềm Thức đang ở đằng sau phần Ý thức, và nó trỗi dậy, điều khiển bạn, làm bạn không kiểm soát được. Vậy thì khi bạn ngồi thiền tĩnh tâm, quan sát hơi thở, cũng là lúc bạn làm thông thoáng tầng Tiềm Thức của mình. Lúc này đây, bạn đã vô hình chung gần như thông được tất cả những nỗi niềm, những đau khổ, những rối rắm vốn làm cho cuộc sống bạn không an yên từ bấy lâu nay. Thông qua việc thiền, bạn đã thông toàn bộ những cổng rắc rối, nghẽn mạch của bạn nằm ở trong bóng tối của Tiềm Thức. Bạn gần như dọn sạch được những kho tâm sự buồn của mình, những sự ngột ngạt của mình, và khi đó bạn sẽ thấy, người bạn sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Để rồi, cuộc sống của bạn sẽ cảm thấy vui hơn, bạn sẽ thấy điều gì cũng đẹp, thấy đâu cũng dạt dào tình thương. Lúc này đây, bạn sẽ cảm nhận được, bức tranh cuộc sống luôn tồn tại nhiều gam màu khác nhau và tuỳ thuộc vào tâm trạng của bạn, cảm xúc của bạn, tầng năng lượng của bạn mà bạn sẽ nhìn ra cuộc sống của bạn có gam màu sáng hay màu tối nhiều hơn. Vậy thì còn ngần ngại gì, mà bạn không bắt đầu thói quen thiền ngay hôm nay, heng!

5️⃣ Giảm cảm giác cô độc & Kiểm soát cơn nóng giận ở tuổi trung niên:

Lý do thứ 5 này đặc biệt dành cho những ai đang bắt đầu chạm đến tuổi trung niên. Như mình từng chia sẻ trong một bài viết về Những Chu kỳ rồng, khi con người ta chạm ngưỡng tuổi trung niên cũng là lúc cơ thể của bạn bắt đầu đi xuống theo đúng quy luật ‘Sinh - trụ - hoại - diệt’. Lúc này đây, Trí não của bạn qua bao nhiêu năm tháng hoạt động, nó cũng có dấu hiệu đi xuống thông qua những biểu hiện về việc suy giảm trí nhớ, rồi sức khỏe của bạn cũng giảm dần. Đây là lúc mà nhiều bạn bắt đầu cảm thấy lo sợ, cảm thấy cô độc, lạc lõng và bạn sẽ thu mình lại, đôi lúc dẫn đến hậu quả là bạn bị mất kết nối với thế giới này.

Vậy thì khi bạn chịu khó thực hành thiền, đặc biệt là trong những năm tháng tuổi trẻ, cũng đồng nghĩa việc bạn đã tạo được một sự kết nối của bạn với vũ trụ bao la xung quanh. Bạn sẽ nhận ra được những sự ủi an, những sự ấm áp, những sự thông tuệ mà đôi khi, những con người bình thường xung quanh bạn không thể nào đem tới cho bạn được.

Nên nếu những ai thiền tập được tốt mỗi ngày, bạn sẽ lược bớt được những suy nghĩ tiêu cực, lược bớt được những phiền muộn từ những con người xung quanh có thể đem tới cho bạn và bạn có thể có được thêm nhiều mối quan hệ tốt, những người bạn tốt. Và khi đó, bạn sẽ cải thiện được cảm giác cô độc, cảm thấy bình thản với cuộc sống này vì bạn đã mở được cái gọi là Tuệ Giác của mình. Lúc này đây bạn sẽ cảm thấy cực kỳ bình thản để đi đến bên kia con dốc của cuộc đời như là nó vốn là.

Ở độ tuổi trung niên, đặc biệt là phụ nữ, bạn sẽ thấy tính tình mình cũng sẽ có những sự thay đổi nhất định. Bạn sẽ nóng tính và ít kiểm soát được cảm xúc của mình hơn. Chính vì vậy thông qua việc thiền mỗi ngày, sẽ giúp bạn hạn chế được những nhược điểm đó.

6️⃣ Giảm “nghiện” các chất kích thích:

Ở đây, mình sẽ không nói đến những chất gây nghiện mà xã hội nghiêm cấm, đó chắc chắn là không tốt và không được sử dụng. Nhưng với những chất như cà phê, thuốc lá, rượu, bia,… dù biết nó không tốt cho sức khỏe nhưng nhiều người vẫn có thói quen sử dụng. Chẳng hạn như sẽ có những bạn sáng ra phải có một ly cà phê thì mới đủ tỉnh táo để làm việc. Vậy thì thay vì bắt đầu ngày mới với một ly cà phê, bạn thử tái lập cho mình thói quen thiền vào buổi sáng đi. Vì khi bạn thiền, bạn sẽ đem được đủ năng lượng vào người, bạn sẽ thấy sảng khoái, tươi tỉnh một cách tự nhiên mà không phải lệ thuộc vào cà phê nữa. Dần dà, bạn sẽ tạo thành thói quen, cơ thể bạn tự nhiên sẽ không ‘kêu gào’ vì thèm phải có chất đó nữa và bạn sẽ bước ra khỏi những sự lệ thuộc này một cách mạnh mẽ và bình yên.

7️⃣ Giảm lo lắng, bồn chồn:

Những sự lo lắng, bồn chồn của chúng ta thường sẽ đi ra từ những nơ-ron thần kinh. Thể Trí của chúng ta thông thường sẽ được chia làm bốn loại: Trí Nhớ, Trí Quan sát, Trí Hồi tưởng và Trí Tưởng tượng.

🧠 Trí Nhớ giúp cho chúng ta ghi nhớ rất nhiều điều khác nhau.

🧠 Trí Quan sát thể hiện sự quan sát về mọi vật, mọi việc, mọi người xung quanh và bạn dùng trí não để thu tóm lại mọi việc quanh mình. Lúc này đây, bạn quan sát không chỉ bằng mắt mà còn cảm giác bằng 5 giác quan.

🧠 Trí Hồi Tưởng là trí quay lại để nhớ những gì xảy ra.

🧠 Trí Tưởng Tượng là bạn mường tượng cho những gì chưa thật sự xảy ra nhưng nó có khả năng hình thành theo trí tưởng tượng của bạn.

Vậy thì, mỗi ngày gần như bạn đều dùng năng lượng cho cả bốn thể Trí ở trên, và điều đó làm bạn tiêu hao rất nhiều năng lượng. Chính vì thế, điều mà QH cũng như nhà MayQ đặc biệt khuyên bạn hướng đến, đó chính là tập thói quen thiền mỗi ngày. Vì khi bạn thiền, bạn chỉ cần giữ một Trí thôi – đó là Trí quan sát. Bạn tập trung quan sát hơi thở vào ra của mình như thế nào thì lúc bấy giờ, ba Trí còn lại cũng dần dần được ‘tắt, nghỉ’. Khi bạn trong trạng thái tĩnh, bạn không còn phải hồi nhớ gì về quá khứ, không cần phải nhớ về những gì đau buồn, không cần phải nghĩ gì cho tương lai,… Bạn chỉ cần mở đúng duy nhất là Trí Quan sát lúc thiền tập, thì bạn đã tiết kiệm được 75% năng lượng rồi. Điều đó cũng đồng nghĩa, bạn đang cắt luôn những đầu mối kết nối bạn với sự lo lắng. Bởi vì thường con người ta có rất nhiều nỗi lo và mối bận tâm: lo lắng vì những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, lo lắng cho tương lai không biết mình sẽ như thế nào,… Vậy thì khi thiền tập mỗi ngày, bạn sẽ loại bỏ được những lo lắng, bồn chồn, dần dà nó sẽ trở thành những phản xạ có điều kiên, và cuộc sống của bạn chắc chắn sẽ điềm nhiên và an yên hơn.

8️⃣ Tăng sáng tạo & Tạo ý tưởng mới:

Lợi lạc tiếp theo của việc thiền hằng ngày sẽ giúp cho chúng ta tăng thêm khả năng sáng tạo và tạo ra được nhiều ý tưởng mới. Điều này đích thân QH cảm nhận được rất rõ khi tập Yoga. Yoga cũng là một hình thức ‘Thiền động’, và khi tập một động tác, ta đưa sự chú ý của mình trong sự tập trung hít vào – thở ra cũng là lúc mình tập trung quan sát hơi thở của chính mình, tạm ngưng sự rối rắm của các dòng suy nghĩ hỗn loạn đan xen nhau. Lúc bấy giờ, dòng năng lượng sẽ từ từ đổ từ Vũ trụ uyên nguyên vào trong con người của chúng ta, làm cho chúng ta kết nối được với Trí Thông minh đại đồng, là cái ‘vốn’ vô giá giúp chúng ta chạm được vào trong những ý tưởng mênh mông bao la và rất nhiều những ý tưởng đó gần như là những sự nhắc nhở, sự dẫn dắt từ Vũ trụ gửi cho chúng ta.

Và khi bạn quay vào sâu trong bản thân mình, chính là lúc bạn quay về với Chân Tâm, Bản Thức của mình. Đây là một nguồn mênh mông vô tận, nên khi bạn quay được ‘về nguồn’, bạn kết nối được với nguồn thì sự hiểu và biết của bạn cũng từ từ được khai mở rất nhiều. Như QH cũng chia sẻ với bạn rất nhiều rồi, ta đến cuộc đời này là ta đã đi qua rất nhiều đời kiếp sống khác nhau, trong đó mình đã có rất nhiều cái kinh nghiệm học hỏi trước đây. Nếu quan sát, bạn sẽ thấy, tại sao có người thì giỏi nấu ăn, có người thì rất là chuyện đồng áng, có người giỏi chuyện giáo dục hoặc có người rất yêu lịch sử hay địa lý, v..v… Tất cả đều do những tri thức, những khả năng mà họ đã từng tích luỹ được qua nhiều đời kiếp sống trước và nó nằm ở trong bạn dưới dạng “File nén”. Và thông qua việc thiền, chúng ta sẽ ‘giải nén’ được những chiếc file đó. Chính vì vậy, khi mà bạn thiền, sẽ có hai hướng để mà bạn tận dụng tính sáng tạo rất là tuyệt vời: một là nhập được vào Trí Thông minh đại đồng, thứ hai là những trí thông minh của nhiều đời kiếp trước, những tri thức, những trải nghiệm của nhiều đời kiếp trước của mình được đem ra lại để mình tiếp tục sử dụng và phát triển tinh tấn.

9️⃣ Chủ động nhớ những gì mình muốn:

Lợi lạc tiếp theo mà thiền tập mỗi ngày đem đến cho bạn chính là bạn sẽ dễ dàng nhớ lại những sự kiện đã qua khi cần một cách dễ dàng hơn. Bộ nhớ lưu trữ của trí não của mình rất lớn, nhưng không phải lúc nào bạn cần lục tìm một điều gì đó đã từng ‘lưu trữ’ trong đó cũng nhớ ra, tức là ngoài tầm chủ động của mình. Có những thứ bạn hoàn toàn không muốn nhớ đến mà vẫn cứ nhớ hoài, chẳng hạn một câu nói làm bạn tổn thương hoặc là một hành động trong quá khứ làm cho bạn đau lòng... Vậy thì khi thiền, bạn sẽ chủ động nhớ được những gì bạn muốn. Bởi vì trí não của bạn giống như một thư viện chất đầy những dữ liệu và khi bạn thiền, nghĩa là bạn đang dọn dẹp dữ liệu đó, xếp vào trong từng ô, từng thư mục, từng tập tin cụ thể để khi cần bạn có thể dễ dàng lấy ra.

🔟 Làm chậm tiến trình lão hoá:

Lợi lạc thứ 10, cũng là điều mà rất nhiều người ao ước nè, hihi. Việc thiền mỗi ngày sẽ giúp cho bạn chậm lại tiến trình lão hoá. Tại sao lại được như vậy? Vì tầng năng lượng (tức là Prana) lúc thiền, bạn đưa vào cơ thể của mình tựa như ‘thức ăn’ mà bạn đang nạp vào cơ thể. Dòng khí đi vào trong cơ thể mình là một dạng thực phẩm không hình dạng, không mùi vị nhưng lại ‘lợi hại’ vô cùng. Nó làm cho cơ thể chúng ta khỏe mạnh hơn, tinh thần phấn chấn hơn. Và đó cũng chính là lý do, nếu bạn ra ngoài thiên nhiên ngồi hít thở năm phút, mười phút hay là nửa tiếng thì tự nhiên cơ thể bạn sẽ chạy cả một ngày tốt đẹp và thậm chí, một số người không còn lệ thuộc vào chuyện ăn uống nữa.

Các dòng dưỡng khí sẽ vá đi những mảnh vá thể khí đang bị thủng lỗ chỗ xung quanh con người bạn do bị stress, mình bị bệnh, già đi một cách tự nhiên tạo thành. Và chính dòng Prana đang làm cho tầng năng lượng xung quanh con người bạn trở nên liền lạc, tươi mới, dày thêm và chính điều đó đang làm chậm tiến trình lão hóa của bạn.

Như vậy, tụi mình đã chia sẻ cho bạn 10 lý do tại sao bạn nên thiền mỗi ngày, bạn còn chần chừ gì nữa mà không bắt đầu ngày từ hôm nay, đặc biệt là tận dụng khoảng thời gian giãn cách này để quay vào bên trong mình. Hôm nào hữu duyên, QH sẽ chia sẻ với bạn về 'Hướng dẫn cho người mới bắt đầu thiền' qua dạng bài viết nhen.

Gửi Niệm lành cho tất cả! 🤗🌸🤗

(16.07.2021 - QH & MayQ Team)



Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

Nơi bình an

 Trích "The Spiritual Life" - Annie Besant

        Nhiều người than phiền đời sống trong thế giới văn minh quá nhanh, náo động và vội vàng, họ thường tự bào chữa “Tôi không có thì giờ.” Người ta thường xem báo chí thay vì đọc sách, xem quảng cáo thay vì tìm đọc những bài luận giải, phê bình người khác thay vì tìm hiểu họ. Càng ngày chúng ta càng chú ý đến những sự việc nông cạn trong đời sống: sự thành công của một thương gia, những quyền hành nhỏ nhoi trong xã hội, danh tiếng tạm thời trong giới chính trị hoặc văn chương… để đạt được chúng, người ta phải làm việc cực nhọc, tìm mưu kế và phấn đấu.

Khi làm việc gì, con người muốn có kết quả ngay, nếu không thì xem như thất bại. Con người khi thấy mục đích bên ngoài, thường cố gắng vượt nhanh đến mục đích đó trong tư thế của người thắng cuộc để nhận lãnh những tràng vỗ tay hoan hô của quần chúng. Danh vọng vững chắc được tạo dựng bởi nhiều năm làm việc không ngừng; cực nhọc suốt đời ngoài đồng, khi đến mùa gặt thì người gieo hạt đã khuất bóng; lý tưởng cao đẹp vượt khỏi tầm với của người bình thường, quá lớn để có thể đạt được trong một kiếp sống... do đó người đời không tiếp nhận được. Tinh thần của thời đại được tóm tắt trong câu nói châm biếm của một hiền triết Trung Hoa: “Con người nhìn vào quả trứng, mong nghe tiếng gáy của nó.”  Chúng ta thường than phiền thiên nhiên quá chậm chạp, nhưng chúng ta quên rằng những gì chúng ta đạt được quá nhanh thì không có chiều sâu.

Đối với một số người, cuộc đời con người không giống như đời sống tạm bợ của những con côn trùng nhỏ bé nhảy múa dưới ánh mặt trời. Đôi khi trong tâm con người phát ra những tiếng thì thầm êm dịu nhắc nhở họ rằng tất cả những sự việc có vẻ như xung đột, vội vàng chỉ là những cuốn phim trên màn ảnh. Những thành đạt trong thương trường, trong xã hội được công chúng ngưỡng mộ chỉ là những điều nhỏ nhặt như những bọt bèo nhấp nhô trên mặt nước; ganh tỵ, và cạnh tranh cay đắng là theo đuổi những điều không giá trị. 


THIÊN NHIÊN LÀ LIỀU THUỐC TRẤN AN


Giả thử chúng ta đến sống tại một thành phố có nếp sống vội vã trong một tuần hay một tháng; chúng ta cảm thấy hơi bị kích động, cố gắng để đạt được vài thắng lợi nhỏ, với niềm hy vọng tầm thường, niềm đau do những sự chán nản, bất hòa do sự va chạm giữa cái ngã ích kỷ với những cái ngã khác cũng ích kỷ không kém. Sau đó chúng ta rời bỏ nơi huyên náo này và đến một vùng núi non thanh tịnh vắng vẻ. Nơi đây, chúng ta chỉ nghe những âm điệu hài hòa của thiên nhiên xen lẫn với những lúc yên lặng: tiếng thác nước đổ dồn dập sau cơn mưa đêm qua, tiếng lá xào xạc dưới chân con thỏ rừng nhút nhát, tiếng khuấy động xì xào gây nên bởi con vịt nước bơi ra từ lùm lau sậy, tiếng róc rách do xoáy nước vỗ lên những tảng đá cuội doc theo bờ suối, tiếng vo vo của những con côn trùng bay lướt qua đám cỏ rậm, tiếng đớp mồi của con cá trong hồ nước dưới bóng cây. Nơi đây, tâm trí ta trở nên tĩnh lặng, êm dịu lại do được tiếp xúc với thiên nhiên, xa rời đời sống thế tục. Khi nhìn lại, ta thấy rõ xã hội đang quay cuồng, điên rồ trong những công việc và những trò giải trí. Từ bầu không khí an tịnh, nhìn ra ngoài, ta không cảm thấy xao xuyến với sự thành công hay thất bại trong những xung đột nhỏ nhặt; cũng như không có gì đáng để ý nếu có người nào đó coi thường, hoặc ngợi khen ta. Khi rời xa những khuấy động, chúng ta có được tầm nhìn viễn cảnh, và thấy những sự vật bên ngoài đóng một vai trò rất nhỏ trong sự sống chân thật của chúng ta.


THỜI GIAN LÀ LIỀU THUỐC TRỊ BỆNH


Khoảng cách thời gian, và không gian cũng làm cho ta quân bình trong sự phán đoán cuộc sống. Sau mười năm trôi qua, khi nhìn lại những thử thách, vui buồn, hy vọng và thất vọng trong quá khứ, ta ngạc nhiên không biết vì sao ta đã tiêu phí quá nhiều năng lực vào những việc nhỏ nhặt không giá trị. Đối với một người đã thay đổi nhiều cá tính, khi hồi tưởng lại những niềm đau thấu xương trước kia, họ cũng thấy chúng có vẻ xa lạ. Sự sống của ta hoàn toàn bị ràng buộc vào sự sống của người khác, và bất cứ giá trị riêng tư nào của ta hình như cũng thuộc về người mà chúng ta yêu thương. Khi bị người ấy phản bội, chúng ta tưởng như cuộc sống này đã chấm dứt, tim chúng ta tan vỡ, nhưng chỉ sau một thời gian, vết thương được chữa lành. Ngày nay, sau mười năm, ta không khỏi rùng mình khi nhìn lại nỗi thống khổ đã có lần sắp làm tan vỡ cuộc đời ta; khi nhớ lại những kích động và tức giận điên rồ, cũng như những lời nói đắng cay đã làm mất đi một người bạn tốt. Trước kia, đôi khi ta bị kích thích quá đáng khi thành công trong công việc mà ta cho là khó khăn; nay nhớ lại đó chỉ là điều nhỏ nhặt đã được thổi phồng lên; và thấy được nó chỉ là một phần nhỏ trong cuộc sống, nó chỉ là một điểm, nhưng có lần đã chiếm trọn cả bầu trời.

Trong niềm an tịnh, xuyên qua không gian và thời gian, ta suy tưởng về những thành bại trong quá khứ, cũng như những đau khổ sẽ xâm nhập trở lại khi ta quay về cuộc sống hàng ngày. Những việc tầm thường cũ trong bộ áo mới sẽ chiếm hết thì giờ của ta; những niềm vui, những nỗi buồn với bộ mặt mới sẽ làm chủ ta. Một lần nữa, cuộc sống của ta lại bị bào mòn bởi những lo âu không ý nghĩa, những tranh cãi nhỏ nhặt, những ham muốn vụn vặt, và những thất vọng phi lý. Thánh kinh Bhagavad Gita có nói: “Sự xao xuyến của những giác quan sẽ biến mất do sức mạnh của trái tim.”

Có phải sự việc luôn luôn như vậy không? Vì chúng ta phải sống trong thế gian, phải đóng một vai trò trong bi kịch của cuộc đời, và phảỉ chịu ảnh hưởng của những sự vật tạm bợ. Liệu chúng ta có thể tìm được một nơi bình an, cách biệt, trong khi phải sống và bị vây quanh bởi những sự việc thế gian?


SỰ BÌNH AN CỦA CHÂN NGÃ


Mỗi người là một Thực Thể Bất Tử trong lớp áo xác thân, được sinh động bởi những ham muốn và đam mê. Ta kết nối lớp áo xác thân bằng sợi chỉ của bản chất trường tồn, sợi chỉ này là cái trí. Rất khó kiểm soát cái trí, vì nó luôn thay đổi và chạy lang thang theo những sự vật thế gian. Nó linh hoạt do những ham muốn và đam mê, hy vọng và sợ hãi. Cái trí muốn trải nghiệm tất cả những thú vui cảm giác, nó bị lóa mắt, điếc tai bởi ánh sáng và huyên náo từ cảnh vật chung quanh. Trong kinh Bhagavad Gita, Arjuna đã than phiền: “cái trí rất biến động, hỗn loạn, mạnh mẽ và bướng bỉnh.”

Ngự bên trên cái trí quay cuồng này là cái Ta Chân Thật hay cái Ngã Tinh Thần, nó hiện diện như một chứng nhân thầm lặng, tự tại. Đây là nơi bình an, tĩnh lặng, sóng gió ba đào ở bên dưới không thể chạm đến được. Vì chân ngã trường tồn, với nó mọi sự vật tạm bợ theo thời gian đều không quan trọng, chúng chỉ có công dụng mang lại sự hiểu biết và kinh nghiệm về điều tốt lẫn xấu. Chân ngã sống trong thân thể như một cái nhà bằng đất, nó học biết sự sinh tử, được mất, vui buồn, và sướng khổ. Nó nhìn những sự việc trải qua như những ảo ảnh, không gợn sóng nào có thể làm mất đi sự tĩnh lặng, tự tại của nó. Nếu có một việc đau buồn ảnh hưởng đến cái vỏ bên ngoài của nó, thì nó chỉ đơn giản ghi nhận sự hài hoà bị gián đoạn. Sự đau khổ được tiếp nhận như dấu hiệu cho biết thất bại, nó thu nhặt như một bài học cho tương lai. Vì chân ngã phải chinh phục cõi vật chất, tinh luyện và thăng hoa nó, và chỉ bằng sự đau khổ chân ngã mới có thể học được cách xử sự.

Như thế, con đường bí mật đưa đến Nơi Bình An là học cách đồng hóa tâm thức chúng ta với chân ngã thật sự, thay vì với phàm ngã tạm bợ. Ta tự đồng hóa với thể trí, và não bộ hoạt động trong xác thân. Ta tự đồng hóa với những đam mê và ham muốn, cho nên ta thường nói: “tôi hy vọng, tôi lo sợ…” Ta tự đồng hóa với thể xác, mà thật ra nó chỉ là một cái máy mà chúng ta dùng để tiếp xúc với thế giới vật chất. Khi tất cả những thành phần của bản chất chúng ta được linh động do sự tiếp xúc với vật chất bên ngoài, và cảm nhận sự quay cuồng của đời sống vật chất xung quanh, lúc ấy tâm thức chúng ta cũng bị ảnh hưởng theo. Kinh B. Gita có nói: “Đam mê tràn vào cướp đi trái tim không được kiểm soát, và kiến thức tinh thần như con thuyền trên biển động giữa cơn giông bão.” Kết quả là chúng ta bị kích thích, mất quân bình, tức giận, cảm thấy bị thuơng tổn, phẫn uất, điên cuồng, đau khổ; tất cả những thứ đó làm mất đi sự bình an và sức mạnh.


BA ĐƯỜNG LỐI DẪN ĐẾN SỰ BÌNH AN


Khi bắt đầu đặt chân trên đường đạo để đến nơi bình an, chúng ta phải cố gắng đồng hóa tâm thức chúng ta với chân ngã, thấy như nó thấy, phán đoán như nó phán đoán. Đây là vấn đề thực hành, chớ không phải nói suông, tuy chưa làm được nhưng chúng ta thử bắt đầu thực hành ba phương pháp sau: (1) Tách rời khỏi những đối tượng của giác quan, (2) làm việc tốt mà không màng đến kết quả, (3) tham thiền và luôn luôn hướng về chân ngã. Chúng ta hãy lần lượt nghiên cứu những phương pháp trên.

Ta có thể thực hành phương pháp đầu tiên bằng cách thường xuyên tuân giữ qui luật một cách khôn ngoan. Hãy tập lãnh đạm đối với những điều gây bực bội nhỏ nhặt, những chuyện tán gẫu vui chơi, những thú vui xác thân, khoan dung và dễ dãi chấp nhận những điều từ bên ngoài đến, không tránh né mà cũng không mong mỏi những điều vui thú hay đau buồn nhỏ nhặt. Dần dần, ta tập được tánh lãnh đạm mà ta không ngờ, những khó khăn nhỏ nhặt xảy ra có thể gây khó chịu cho người khác, nhưng không ảnh hưởng đến tâm trí ta. Nhờ vậy ta mới rảnh tay giúp đỡ những người chung quanh đang bị phiền phức bởi những khó khăn; và ta có thể trợ giúp cho cuộc sống của những người chưa hiểu biết bằng chúng ta được dễ dàng hơn. Để đạt được đức tánh này, sự điều độ là then chốt. Trong B. Gita có đề cập như sau: “Hỡi Arjuna, qui luật hoàn hảo không thể đạt được bởi người ăn quá nhiều hay quá ít, hoặc bởi người có thói quen ngủ quá nhiều hay quá ít. Người muốn diệt đau khổ phải điều độ trong sự ăn uống, giải trí, hoạt động , và ngủ nghỉ.” Xác thân không thể bị phá hủy, nó phải được huấn luyện.

Phương pháp thứ hai là không màng đến kết quả. Điều này không có nghĩa là không để ý đến kết quả của việc ta làm để rút tỉa kinh nghiệm cho bước đi kế tiếp. Chúng ta có được kinh nghiệm từ sự xem xét kết quả, và từ đó trở nên khôn ngoan. Khi một hành động đã được thực hiện với sự suy xét cẩn thận, với năng lực mạnh mẽ, và ý nguyện trong sạch; sau đó, chúng ta cứ để tự nhiên, không lo lắng gì đến kết quả. Hành động đã thực hiện, không thể thu hồi lại được, lo lắng không có ích gì. Khi kết quả đến, ta ghi nhận như một lời dạy, không quá vui mừng hay hối tiếc. Sự vui mừng hay hối tiếc chỉ làm cho ta không chú tâm thực hiện bổn phận hiện tại, và làm suy giảm tiềm lực của ta. Giả thử kết quả của việc làm là có hại, người khôn ngoan sẽ nói: “Tôi đã làm sai, tôi phải tránh lỗi lầm tương tự trong tương lai; hối hận chỉ làm suy giảm năng lực trong công việc hiện tại, mà không thay đổi được kết quả do hành động lỗi lầm của tôi. Vì thế, thay vì để mất thì giờ cho sự hối hận, tôi chú tâm làm việc cho tốt hơn.”

Tách rời khỏi kết quả của hành động làm cho cái trí an tịnh, từ đó chúng ta có thể tập trung hữu hiệu vào mỗi công việc. Kinh B. Gita nói: “Ai  hiến dâng hành động không vụ lợi cho Đấng Tối Cao, thì không có tội lỗi nào chạm đến họ, như nước không thể thấm vào lá sen. Người hiến dâng chân thật có trái tim tinh khiết, họ hành động bằng xác thân và các giác quan, với lý trí và sự hiểu biết, họ không màng những lợi lộc riêng tư. Người hiến dâng không bị trói buộc vào kết quả của hành động sẽ đạt được sự an tịnh; trong khi người hành động do lòng ham muốn, và đeo níu vào kết quả sẽ bị trói buộc.”

Phương pháp thứ ba, tham thiền, là cách thức đem lại nhiều kết quả nhất và cũng là cách thức khó khăn nhất. Người tập tham thiền phải thường xuyên cố gắng nhận ra lý lịch của mình từ chân ngã, và ý thức mình chính là chân ngã đó. Cái trí hay thay đổi, và thường chạy theo sự vật bên ngoài, ta phải chinh phục nó, và đem nó trở về nội tâm. Việc này phải thực hành suốt đời, và nó sẽ đem ta đến nơi bình an. Ta phải thường xuyên làm tươi mới sự cố gắng và duy trì tính kiên nhẫn. Mỗi ngày ta cần để riêng ra một khoảng thời gian, vào giờ nhất định, tự thu mình lại như con rùa thu gọn vào cái mai của nó, hồi nhớ lại bản chất trường tồn của ta; không để những điều tạm bợ, những biến cố ở thế gian ảnh hưởng đến ta.

Khi năng lực tinh thần trong chân ngã tăng trưởng, chẳng những chúng ta được bình an mà còn được minh triết. Vì khi không còn ham muốn cá nhân, và nhận ra được bản chất trường tồn, chúng ta sẽ không còn tư kiến hay thành kiến khi phán đoán mọi việc. “Khi đạt đến trạng thái an tịnh, con người xa lánh được tất cả phiền phức, cái trí dễ dàng chú tâm vào một sự việc, và đạt được minh triết. Nếu tâm và trí không an tịnh, ta sẽ không thể đạt được minh triết. Với lòng kiên nhẫn, con người sẽ dần dần đạt được những mức độ của sự an tịnh. Phúc lạc tối thượng chắc chắc sẽ đến với bậc hiền triết đã có cái trí bình an, đã khắc phục được những dục vọng và đam mê; vị ấy luôn luôn an trụ trong chân ngã, thoát khỏi mọi ràng buộc của tội lỗi.”

Đây là ba cấp bậc của con đường dẫn đến Nơi Bình An. Đến được nơi đây là đã chinh phục được Thời Gian và sự Chết. “Trên con đường quanh co dẫn đến tận đỉnh núi, cánh của “con chim bình an” quạt phía trước người hành hương mệt mỏi, và cuối cùng người ấy tìm được sự an tịnh không bao giờ mất.”


Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

Kinh nghiệm thiền Vipassana

Nguyễn Từ Nam

Tôi có duyên  thiền thep pháp môn của ngài Goenka từ 12/2000. Tôi cố gắng giữ năm giới một cách cẩn thận , thiền rất chăm chỉ từ 20 năm qua , tham gia những khóa dài hạn và phục vụ trong nhiều trung tâm thiền khác nhau và đã được nhiều tiến bộ trên con đường tu tập nên muốn viết lên bài này nhằm tạo nguồn cảm hưng cho những ai đang tìm kiếm con đường tâm linh  của mình.

Trước đây tôi đã từng đi nhiều chùa , đọc kinh cũng nhiều, thử qua nhiều môn thiền khác nhau nhưng khi tôi thiền xong 10 ngày với pháp môn được giảng dạy bởi Ngài SN Goenka theo truyền thống của ngài U Ba Khin thì tôi quyết định theo pháp môn này cho đến hết cuộc đơi của mình.

Nhiều người thuộc lòng kinh điển, biết rõ những tầng thiền là gì , thông suốt những lời Phật dạy nhưng nếu họ không thực hành thì vẫn còn thiếu sót.

Pháp môn thiền Vipassana được giảng dạy bởi ngài Goenka cho phép chúng ta hiểu rõ những căn bản của pháp hành này đồng thời chứng ngộ tùng bước một những gì mà Đức Phật đã giảng dạy trong suốt 45 năm : Bát chánh Đạo, thập nhị nhân duyên, thất giác chi, 37 phẩm trợ đạo….Khi chúng ta hành thiền theo kỹ thuật của trường phái Goenka thì từng bước một chúng ta sẽ chứng ngộ và hiểu ra rằng Đức Phật chỉ giảng lại kinh nghiệm hành thiền của mình mà không liên quan gì đến sách vỡ, lý thuyết hoặc tông phái.

Pháp môn Goenka ( tôi tạm dùng từ ngữ này thay cho pháp thiền Vipassana được giảng dạy bởi ngài Goenka theo truyền thống của ngài U Ba Khin ) hiện nay được giảng dạy hoàn toàn miễn phí trên toàn thế giới và đã có mặt tại Vietnam từ năm 2007.

Những thiền sinh cũ đã từng dự một hay nhiều khóa thiền 10 ngày đều gặt hái được  nhiều  lợi lạc .
Tuy khóa thiền hoàn toàn miễn phí và dành cho tất cả mọi người nhưng những ai chưa đủ quyết tâm  sẽ chùn bước trước những nội quy , điều lệ của  khóa thiền 10 ngày: Không nói chuỵên trong vòng chin ngày đầu tiên của khóa thiền, chỉ ăn sáng và ăn trưa , chiều thì thiền sinh mới được dung trái cây, thiền sinh cũ chỉ dung nước chanh, thiền liên tục từ 4g30 sang đến 9h tối , cứ thiền 1 tiếng thì được nghĩ 5 phút…

Những gì được giảng dạy trong vòng 10 ngày có thể được tóm tắt bằng 3 chữ:

Giới- Định- Tuệ

Do những điều lệ khắt khe của khóa thiền mà thiền sinh không có cơ hội phạm năm giới, họ duy trì năm giới trong suốt khóa thiền.

Ba ngày rưỡi đầu , họ thực hành thiền định bằng cách quán hơi thở và cảm giác chung quanh vùng mũi của mình, vào ngày thứ tư Vipassana chính thức được giảng dạy và vào ngày cuối cùng thiền sinh thực hành Từ bi quán để chia xẻ công đức của việc thực tập thiền với tất cả chúng sanh.

Theo kinh nhiệm riêng của cá nhân tôi thì trình độ thực chứng tùy theo công đức parami ba la mật của mỗi người . Ngài U Ba Khin tuyên bố : những ai thực lòng cầu đạo và thiền một cách nghiêm túc trong vòng 10 ngày thì đều gặt hái được những kết quả rất khả quan.

Những ngày đầu quả là một cực hình đối với thiền sinh mới , một phần vì thức ăn đạm bạc , một phần không được nói chuyện nhưng chủ yếu là những sự bực bội này được khuếch đại trên bề mặt của tâm thức do công phu thiền tập theo hơi thở . Phương pháp quan sát hơi thở ở đây khác những pháp môn thiền khác là chúng ta chỉ quan sát hơi thở đơn thuần mà không đếm hoặc niệm Phật hoặc xen vào bất kỳ hình ảnh nào. Do đó việc tập trung trở nên khó khăn và thiền sinh cảm thấy không thoải mái khi bắt đầu thưc hành môn thiền này. Nhiều thiền sinh quan niệm là khi tôi bỏ công 10 ngày , ngồi liên tục 10 tiếng 1 ngày , tôi sẽ được an lạc. Nếu các bạn thiền những môn thiền khác về hơi thở mà họ cho phép bạn đếm hoặc tụng niệm  danh hiêu một vị Phật, hoặc tụng một câu thần chú, hoặc quán tưởng hình ảnh của một vị Bồ tát nào đó thì bạn rất dễ định tâm. Mà nếu tâm định thì hỷ lạc phát sinh và bạn cảm thấy khoan khoái và nghĩ : oh đây là định , đây là giải thoát, đây là niết bàn.

Pháp thiền của ngài Goenka tạo ra nhiều khó khăn vì mục đích của nó không phải mang lại sự an lạc tạm thời cho các thiền sinh mà là một sự an lạc thực sự sâu lắng , một sự hài hòa nội tâm thực sự và tiến đến giải thoát bằng cách thanh lọc tâm trong những tầng lớp sâu thẳm nhất.

Vì vậy khi theo dõi hơi thở mà bạn không xen vào bất kỳ thứ gì khác thì bạn sẽ có cơ hội quan sát hơi thở của mình đúng như nó là : hơi thở nặng trược , thô thiển , thở dốc, thở cấp bách , đứt hơi. Thêm vào đó thiền sinh còn bị phóng tâm  , tâm suy nghĩ lung tung làm cho quá trình quan sát hơi thở lien tục bị gián đoạn. Hoặc là thiền sinh bị hôn trầm hằng tiếng đồng hồ và không thể theo dõi hơi thở của mình.

Tôi từng có kinh nghiệm phục vụ nhiều khóa thiền tại trung tâm Dhamma Mahi ở Pháp và tôi cảm thấy rất khâm phục những thiền sinh mới này . Khi mà thời điểm khó khăn lên đỉnh cao , họ biến chỗ ngồi thiền của họ thành những pháo đài : họ dựng thêm hai ba lớp gối , hoặc chêm. thêm những tấm chăn giày . Họ không quen ngồi xếp bằng như người á đông và họ ngồi theo cách họ có thể nhưng phần đông quyết bám trụ và không bỏ về. Họ ý thức rất cao và chấp hành các nội quy của khóa thiền rất là nghiêm chỉnh.

Mỗi thiền sinh đều có kinh nghiệm riêng của mình và ngài Goenka luôn nhắc nhở không nên so sánh kinh nghiệm của mình với kinh nghiêm của các thiền sinh khác.

Tôi đã thiền qua nhiều khóa mười ngày, và kinh nghiệm mỗi lần mỗi khác nhau nhưng tôi cố gắng diễn tả  một vài kinh nghiệm có được của mình.

Vào ngày một tôi theo dõi hơi thở một cách bình thường. Mỗi lần phóng tâm , tôi lại trở về hơi thở của mình và không phản ứng.

Qua ngày hai tâm tôi trở nên tinh tế hơn và tôi nhận biết được sự xúc chạm của hơi thở ra , hơi thở vào trong cánh mũi.

Qua ngày ba tôi cảm thấy hơi thở   ra nóng hơn hơi thở vào và nhận biết được nhiều cảm giác chung quanh vùng mũi.

Chiều ngày thứ ba và sáng ngày thứ tư , tâm tôi trở nên vi tế hơn . Những cảm giác chung quanh vùng mũi và môi trên trở nên dày đặc. Tôi có cảm giác là bờ miệng tôi bị xé toạc, nó biến dạng , vặn vẹo một cách kỳ di

Thông thường trong các trung tâm thiền , kỹ thuật thiền Vipassana sẽ được truyền dạy vào chiều ngày thứ tư.

Đối với vài thiền sinh định lực yếu thì ngày thứ tư đúng là ngày giải thoát vì họ không còn phải ép buộc tâm theo dõi hơi thở hàng giờ.  Họ bây giờ có thể điều khiển tâm đi trên khắp bề mặt của cơ thể và tập cho tâm giữ được quân bình trước mọi cảm giác.

Và đây cũng chính là cốt lõi của pháp môn thiền Goenka: quan sát tất cả mọi cảm giác xuất hiện trên cơ thể , giữ bình tâm và không phản ứng.

Có nhiều người viết rằng pháp mộn Goenka là chuyên về niệm thọ và không phải pháp mộn của Phật. Đây là một nhận định hời hợt không chính xác . Họ phải tự mình có can đảm dự một khóa thiền 10 ngày rồi hảy phê phán.

Nếu chúng ta lấy kinh tứ niệm xứ làm căn bản thì có niệm thân, niêm thọ , niệm tâm và niệm Pháp.
Tôi đã thiền theo phái Tào động một trường phái thiền Zen của Nhật dưới trướng của ngài Deshimaru. Phái này chuyên về niệm thân. Họ ngồi trên bồ đoàn cao, giữ người cho thật thẳng , và điều hòa hởi thở. Chỉ có vậy thôi, họ quan niêm phải ngồi thật thẳng như Đức Phật thì sẽ chứng ngộ ( Satori) ngoài ra không cần làm gì thêm hết . Tồi đã ngưng thiền theo môn phái này vì nó chỉ cho một số kết quả nhất định.

Nhiều trường phái theo pháp môn quán tâm , họ liên tục quan sát những gì đang xảy ra trong tâm (cụ thể là quan sát những tư tưởng đang xảy ra và chánh niệm tất cả mọi viêc trong tứ oai nghi).

Nếu chúng ta quan sát sự phồng xẹp của bụng thì thiền định sẽ tới dễ dàng hơn vì đây là trung tâm năng lượng của con người ( đan điền ). Pháp môn của ngài Goenka thì tập trung quan sát ở phần môi trên vì đây là trung tâm thần kinh rất nhạy cảm của cơ thể. Việc tập trung ở môi trên giúp cho việc thiền quán dễ dàng hơn.

Pháp môn Goenka có những lợi thế sau đây : nếu chúng ta quan sát những cảm giác trên cơ thể thì đồng thời chúng ta cũng quán Tâm vì tất cả những gì đang xảy ra trong tâm đều đi kèm một cảm giác trên cơ thể.

Khi chúng ta quán cảm giác thì chúng ta đang sống trong hiện tại (cảm giác nóng lạnh, ngứa ngáy , khó chịu … thì bao giờ cũng có thật mà không phải do tưởng tượng).

Khi chúng ta quán những cảm giác này mà không phản ứng thì nghiệp lực được tiêu trừ dần dần.
Điều này sẽ được giảng giải cụ thể trong những bài pháp thoại mười ngày.

Khi thực hành thiền Vipassana theo pháp môn Goenka chúng ta phải quan sát liên tục mọi cảm giác xảy ra trên cơ thể. Tất cả thiền sinh đều kinh nghiệm những cảm giác khác nhau trên cơ thể.

Tôi đã kinh nghiệm nhiều lần rằng có những cảm giác xảy ra là do điều kiện hiện tại: nhiệt đô, thức ăn, tư thế ngồi.

Nhưng có những cãm giác xảy ra rất rõ ràng là do các nghiệp lực từ quá khứ: nhiều lần tôi đang ngồi theo dõi các giảm giác trên thân mình . Các cãm giác thật là vi tế giống như một luồng điện đang di chuyển trong thân từ trên xuống dưới. Đột nhiên trên lưng tôi nổi lên những  cảm giác đau đớn như có một vật thể nặng trược như đá được sinh ra ở đó. Tùy theo nghiệp nặng nay nhẹ mà các cảm giác này có thể  kéo dài  5, 10 phút. Nhiều khi 2, 3 tiếng hoặc kéo dài vài ngày.

Sau đó những nghiệp lực này tan biến đi và tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm.

Tôi biết có nhiều thiền sinh có nghiệp lực rất nặng và cảm giác đau đớn khó chịu này có thể kéo dài năm mười năm…

Tôi cũng đã từng kinh nghiệm qua các cơn giận. Nhiều khi cơn giận nổi lên là do sự không bằng lòng về thức ăn, hoặc cách đồi đãi của các người phục vụ, hoặc bạn đang nghĩ về những người làm cho bạn buồn phiền. Trên bề mặt cơn giận có vẻ như xuất phát từ một nguyên do nào đó nhưng thật sự không phải vậy. Cơn giận bùng nỗ không cần lý do mà chỉ là do nghiệp lực (sankara )từ quá khứ và trổi lên trên bề mặt của tâm thức . Tôi đã quan sát liên tục tâm mình và kinh nghiệm được điều này.
Thập nhị nhân duyên:

Đây cũng là một chân lý mà đức Phật đã khám phá ra qua công trình thiền quán của Ngài. Tất cả những gì mà Đức Phật tuyên bố đều từ kinh nghiệm bản thân và không hề do lý thuyết. Nếu chúng ta thiền theo pháp môn Goenka thì kinh nghiệm thực chúng  sẽ rất rõ ràng. Tôi sẽ cố gắng giải thích chân lý bằng những danh từ dễ hiểu và căn cứ trên kinh nghiêm thiền quán của mình.

Khi chúng ta nhập thất, chúng ta im lặng, ăn một ngày một buổi và chúng ta thiền liên tục từ bốn giờ rưỡi sáng đến khoảng chín giờ tối. Chúng ta thiền một giờ, nghỉ năm phút xong lại thiền tiếp. Trong những tu viện như vậy, quí vị hành thiền và giữ giới một cách tự nhiên. Thông thường ba ngày đầu dành do thiền định, bảy ngày sau dành cho thiền quán.

Kinh nghiệm thiền cho thấy rằng  những người thiền sinh tập sự, họ phải cần ít nhất ba ngày để định tâm. Khi tâm của các thiền sinh tạm thuần thục và trở nên sắc bén, nó sẽ nhận biết được những sự thay đổi mau lẹ của quá trình tư tưởng, sự sinh ra và diệt đi của những chập tư tưởng này. Quan trọng hơn nữa, là chúng ta nhận biết được sự thay đổi, sự sinh ra và diệt đi của những cảm giác vi tế nhất trên thân của chúng ta. Và đó là sự chứng ngộ về  vô thường của đức Phật : ngài khám phá ra rằng cơ thể và đầu óc của chúng ta luôn luôn phản ứng do những cảm giác ( vedana ) trên cơ thể gây nên mà không phải do đồ vật bên ngoài.

Đức Phật đã từng tu khổ hạnh vì quan điểm thời bấy giờ cho rằng, nếu chúng ta ép xác, tâm của chúng ta sẽ được thanh tịnh vì khi tâm của chúng ta tiếp xúc với sáu trần bằng mắt mũi, tai, lưỡi, xúc và tâm, chúng ta sẽ tạo nghiệp vì tham sân si khởi động. Sau đó đức Phật đã từ bỏ lối tu hành này vì ngài kinh nghiệm rằng pháp thiền này còn thiếu sót nên không thể đem đến giải thoát. Vậy cái gì còn thiếu sót? Đó chính là cảm giác trên thân thể của chúng ta. Khi lục căn của ta tiếp xúc với lục trần, cảm giác được sinh ra trên thân thể của chúng ta và nếu cảm giác này dể chịu, chúng ta phản ứng bằng cách níu kéo, nếu cảm giác này là khó chịu, chúng ta sẽ sinh ra sân hận và tìm cách chối bỏ chúng.

Vậy chúng ta phản ứng không phải trực tiếp do tiếp xúc với đồ vật bên ngoài mà do cảm giác sinh ra trên cơ thể. Ngay cả khi ngủ, chúng ta cũng không ngừng phản ứng. Ví dụ chúng ta đang ngủ, mà có một con muỗi đốt chúng ta, chúng ta sẽ đập nó một cái bốp. Đó là phần vô thức nằm sâu trong tâm của chúng ta đã phản ứng. Và nó phản ứng từng giờ, từng phút, từng dây liên tục 24 trên 24. Hễ lạc thọ sinh ra, là Vô Thức phản ứng bằng cách níu kéo và nắm giữ, nếu khổ thọ sinh ra, Vô Thức sẽ phản ứng bằng cách chối bỏ chúng.

Sự níu kéo và nắm giữ sinh ra tham, sự chối bỏ sinh ra sân hận và chúng ta bắt đầu tạo nghiệp ( sankara ). Chúng ta tạo nghiệp từng giây, từng phút bởi vì phần vô thức của chúng ta không ngừng phản ứng bằng tham hoặc sân mỗi khi lạc thọ hoặc khổ thọ xuất hiện. Khi chúng ta thiền theo pháp môn Goenka ta sẽ thấy rằng lạc thọ hoặc khổ thọ có mặt trên khắp thân thể của chúng ta. Tại sao những cảm giác này được sinh ra ? Tại vì có sự tiếp xúc của mắt và sự thấy, mũi với mùi vị, lưỡi với sự ăn uống, thân thể với ngoại vật và tâm với tiến trình suy nghĩ. Khi có sự tiếp xúc, cảm giác sẽ được sinh ra, lạc thọ, khổ thọ hay trung thọ.

Tại sao lại có sự tiếp xúc này ? Tại vì có lục trần và lục căn. Lục căn do đâu mà có? Từ lúc chúng ta sinh ra thì lục căn xuất hiện. Tại sao lục căn xuất hiện? Lục căn xuất hiện vì có sự sống. Tại sạo lại có sự sống? Sự sống do đâu mà có? Tại vì sự sống được tạo nên do tâm và vật chất. Tại sao tâm và vật chất ( esprit et matiere ) hiện hữu? Vì có sự biết ( conscience ). Sự biết do đâu mà có? Tại vì phản ứng, mỗi lần phản ứng là giúp cho sự biết này xuất hiện. Tại sao chúng ta lại phản ứng? Là vì chúng ta không biết ( vô minh ), do chúng ta không biết rằng mỗi lần phản ứng là nghiệp được sinh ra nên chúng ta tạo nghiệp liên tục, nghiêp lực này lại tiếp tục sinh ra một đời sống mới.

Do có sự sống mà khổ đau có mặt. Vậy khổ đau bắt nguồn từ vô minh.

Muốn chấm dứt khổ đau, phải xóa tan vô minh, nhưng làm sao để xóa tan vô minh và bẻ gãy gông cùm do thập nhị nhân duyên xiềng xích ta vào thế giới này, làm sao xóa tan vô minh, bẽ gãy gông cùm để được giải thoát khi mà sự sống đã bắt đầu?

Tự tử là điều không thể được. Lúc chúng ta tự tử, tâm chúng ta đầy chán nãn và sợ hãi và sự đau khổ càng to lớn hơn. Chúng ta sẽ bị rơi vào một đời sống mới tràn đầy đau khổ nên tự tử không phải là cách giải quyết vấn đề giúp ta thoát khổ.

Chúng ta cũng không thể tiêu hủy lục căn vì làm như vậy không khác gì chúng ta tự tử, chúng ta cũng không thể tiêu hủy lục trần vì làm như vậy la chúng ta phải tiêu hủy toàn thế giới bên ngoài mà chúng ta đang sống.

Chỉ còn một cách duy nhất để bẽ gãy gông cùm do thập nhị nhân duyên gây ra là chúng ta đừng phản ứng mỗi khi cảm giác xuất hiện trên thân thể của chúng ta. Trước đó, mỗi khi lạc thọ xuất hiện, chúng ta chạy theo chúng, muốn nắm giữ chúng và khi khổ thọ xuất hiện, chúng ta lại sinh tâm chán ghét và muốn từ bỏ chúng. Tham lam và sân hận sinh ra khổ đau. Vậy muốn tránh khổ đau ngay từ bây giờ chúng ta phải thiền về cãm giác :mỗi khi cãm giác xuầt hiện chúng ta phải ý thức được chúng, chúng ta giữ chánh niệm và không phản ứng. Chúng ta quan sát những cảm giác này, và chúng ta thấy những cảm giác sinh ra và lại diệt đi. Sự quan sát này càng ngày càng được cũng cố do công phu thiền quán. Chúng ta hiểu một cách minh bạch rằng những cảm giác này là vô thường. Không có gì để tham lam và chán ghét chúng cả. Do hiểu chúng là vô thường mà tuệ quán phát sinh nơi tâm của chúng ta. Nếu chúng ta không nắm bắt, không chiếm giữ, tâm của chúng ta sẽ được bình an và giải thoát.

Chúng ta có thể tóm tắt luật Thập nhị nhân duyên :
-Vì không biết nên chúng ta phản ứng.
-Do phản ứng ý thức xuất hiện.
-Vì có ý thức, thân và tâm xuất hiện.
-Vì có thân và tâm nên lục căn xuất hiện.
-Do lục căn có mặt, nên có sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
-Vì tiếp xúc nên sinh ra Cảm Giác.
-Do có cảm giác, nên sinh ra tham lam và sân hận.
-Tham lam và sân hận sinh ra chấp thủ ( gắn bó và quyến luyến)
-Do chấp thủ nên sinh ra lòng ham  sống.
-Vì muốn sống nên sự sống được hình thành.
-Vì có sự sống nên đau khổ có mặt với già , bệnh tật và chết.

Đạo lộ Giải thoát:
Mỗi một thời khắc mà chúng ta không tạo nghiệp, những nghiệp trong quá khứ sẽ trồi lên và cảm giác sẽ xuất hiện trên thân thể, chúng ta có thể kinh nghiệm được những cảm giác này khi chúng ta thiền quán. Nếu chúng ta giữ chánh niệm và không phản ứng, những cảm giác này sẽ biến mất. Sau đó những nghiệp khác trong quá khứ lại tiếp tục trồi lên, những cảm giác mới lại xuất hiện. Chúng ta lại tiếp tục giữ chánh niệm bằng cách không phản ứng. Cứ mỗi lần thiền quán mà chúng ta chánh niệm, tỉnh giác, giữ cho tâm ta được quân bình, không để cho lạc thọ hoặc khổ thọ chi phối, chúng ta giữ tâm định tĩnh và không phản ứng, những nghiệp chướng này sẽ từ từ được rửa sạch. Tới một lúc nào đó, tất cả nghiệp chướng đều được tiêu trừ do công phu thiền quán, chúng ta đắt quả alahán và giải thoát.

Tất cả tiến trình giải thoát này đều được dựa lên kinh nghiệm của những khóa thiền . Đức Phật đã thiền, đã kinh nghiệm qua tiến trình này và đắc đạo. Khi kinh nghiệm thiền của bạn đã thâm sâu, bạn hiểu rằng quá trình giải thoát bằng cách thanh lọc tâm không dính dáng gì đến kinh điển và kiền thức trừu tựơng.

Chúng ta phải thiền về cảm giác vì nhờ thiền về cảm giác mà chúng ta có thể thoát khỏi sự ràng buộc xiền xích của thập nhị nhân duyên. Đức Phật nhấn mạnh ta phải thiền về cảm giác ( vedana ) vì đây là đầu dây mối nhợ cột chúng ta vào vòng luân hồi không có lối thoát này.

Và khi bạn thiền theo pháp môn Goenka , bạn kinh nghiệm đây là con đường trực tiếp đưa đến giải thoát:

- Do thiền quán về cãm giác  chúng ta hiểu phần Vô Thức ( subsconscience ) hoạt động ra sao, tham sân si nguy hiểm như thế nào nên chúng ta ngừng phản ứng
- Do không phản ứng, nghiệp mới không được tạo ra.
- Do không tạo nghiệp nên ý thức không thể hiện hữu.
- Y thức không hiện hữu, thân và tâm không thể có mặt.
- Nếu không có thân và tâm, lục căn không thể xuất hiện.
- Không có lục căn, thì không có sự  tiếp xúc với thế giới bên ngoài.
- Không có tiếp xúc, thì cảm giác không sinh ra.
- Không có cảm giác thì không có tham lam và sân hận.
- Không tham lam và không sân hận thì không có lòng lưu luyến, chấp thủ.
- Nếu không có sự lưu luyến, chấp thủ thì không có lòng ham sống.
- Do không ham sống, nên sự sinh không được hình thành.
- Không sinh ra thì không có sự huỷ hoại, không già , không bịnh tật, không chết. Sự đau khổ chấm dứt.

Cầu mong càng ngày càng nhiều người bước trên đạo lộ giải thoát.
Trong tâm từ.

NGUYỄN TỪ NAM


Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Tham thiền và kỹ thuật hình dung

Comment của Hoàng Quốc Khánh về Kỹ Thuật Hình Dung trên trang Minh Triết Mới

Những giáo lý mà Đức DK đưa ra cho thế gian, hầu hết đều rất trừu tượng và thúc đẩy người tầm đạo phải nâng dần tâm thức lên đến cõi thượng trí và tư duy trừu tượng nếu y muốn thấu hiểu. Xuyên suốt giáo lý của Ngài, kĩ thuật tham thiền được chú trọng và trở thành phương pháp trọng tâm mà người tầm đạo phải thành thục. Đối với những người đệ tử sơ cơ, việc nghiêm trì giới luật, lập hạnh và nhận thức động cơ đúng đắn là việc quan trọng hàng đầu. Chúng ta biết đức hạnh là phẩm tính và năng lượng tuôn đổ từ linh hồn, tật xấu là mãnh lực của phàm ngã, chính trong quá trình đặt phàm ngã dưới sự kiểm soát của linh hồn, thì kĩ thuật hiệu quả là chuyển hóa và chỉ có nhờ tham thiền mà sự chuyển hóa mới diễn ra. Như vậy, ngay từ cơ bản cho đến khi chúng ta có thể hiểu và đồng hóa được Chân lý ẩn tàng trong từng phần giáo lý mà Ngài đưa ra, phương pháp hiệu quả nhất là tham thiền. Những kiến thức Minh Triết mà webmaster đã tổng hợp và tóm lược rất bổ ích cho người tầm đạo, việc này tiết kiệm rất nhiều thời gian và phần nào đó làm cho tâm trí bớt thấy trở ngại khi tiếp xúc với những Chân Lý cao siêu. Tuy nhiên, việc này phần nhiều là kích thích và mở rộng hạ trí cho người tầm đạo, và bởi vì chữ viết chỉ là biểu hiện ngoại tại, khách quan của ý tưởng, việc cần thiết là người tầm đạo phải kết hợp với tham thiền, nếu anh muốn nâng cao đến tâm thức nhận biết được những ý tưởng, và nguyên nhân nội tại. Sau một thời gian thực hành, đệ nhận thấy rằng, kĩ thuật nền tảng của tham thiền là hình dung phải là kĩ thuật đầu tiên cần xây dựng và thành thạo. Chúng ta đều biết quá trình nhuộm màu phẩm tính cho các luân xa, tùy thuộc vào ý định và tư tưởng sử dụng hơi thở như là tác nhân định hướng, chính lúc này ta mới thấy lời khuyến cáo Ngài đưa ra “tham thiền là đùa với lửa” là cần thiết ra sao, bởi việc hình dung sai, hay việc chưa chế ngự được thể trí, thì chúng ta không thể giữ “thể trí ổn định trong ánh sáng”, lúc này các hình tư tưởng liên tục xâm nhập gây rối loạn thể trí, kéo theo thể cảm dục bất ổn. Nếu như cố gắng tham thiền, và thường là kết hợp với phép tập thở sai lầm, thì cuối cùng ta chỉ làm mãnh mẽ thêm các luân xa dưới cách mô và đặt mình dưới móng vuốt của nguy cơ. Khi đọc sách của Ngài, bởi mức độ tiến hóa còn thấp, ta dễ thường lầm lẫn những từ ngữ Ngài đưa ra theo nghĩa thông thường, chẳng hạn Đức DK thường hay nói “ Hãy suy ngẫm vấn đề đó”, từ suy ngẫm dễ liên tưởng theo nghĩa là một tiến trình tư duy thuộc về trí cụ thể, thuộc về thể trí của phàm ngã, chứ ít khi được hiểu rằng sự “sáng tỏ” diễn ra ở trên cõi của linh hồn và được đưa xuống đến bộ não hồng trần . Cũng vậy, các phép thở trở nên phổ biến dẫn đến người ta dễ nhầm lẫn phương pháp thở thông thường và phương pháp thở nội môn Pranayama. Đối với phương pháp thở thông thường thì chỉ có tác dụng sinh lí, và vì vậy, dễ dàng được chấp nhận, còn với phương pháp thở nội môn, hiệu quả chỉ diễn ra sau một thời gian dài, ít nhất là theo quan điểm của các bậc tiến hóa khi đánh giá ta, việc thực hiện đúng phép thở hiển nhiên là còn rất xa với một thường nhân. Đối với người sơ cơ, khi phần thưởng về một sự phát triển nhanh chóng còn là mục tiêu, thì những phương pháp được đưa ra dễ bị hiểu nhầm và dẫn tới nguy cơ nhiều hơn là lợi ích. Hiện nay, theo đệ thấy, sự chú ý đang bị tập trung vào giai đoạn tập thở, nhiều hơn là những giai đoạn chuẩn bị và kiến tạo một nền tảng vững chắc cho những kĩ thuật cao hơn về sau …

Theo quan điểm của các vị hướng đạo như Đức DK hay Patanjali, phép thở chỉ có tác dụng sau khi chúng ta đã thực hiện nghiêm trì giới luật, thực hiện các điều răn và đặc biệt là phải có 1 vị huấn sư có kinh nghiệm giám sát và hướng dẫn trực tiếp. Tham thiền đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu, và kĩ thuật nền tảng của tham thiền là hình dung nên được chú ý nhiều hơn và nên được người tầm đạo tập trung vào nhiều hơn. Sau một thời gian thực hành, đệ, một người sơ cơ, nhận thấy có những khó khăn nhất định trong việc định trí và thấy rằng, chỉ khi thành thạo kĩ thuật hình dung thì ta mới có thể kiểm soát và định hướng ý định và tư tưởng. Đối với người đệ tử sơ cơ, mục tiêu là thanh luyện các hạ thể và kỉ luật, thì những khó khăn như vậy cần phải được khắc phục, tuy nhiên, trước tiên phải có nguồn tài liệu đúng đắn. 


Chú M.T.M: Đúng là tập thở chỉ nên đi sau Giới Luật, rèn luyện đức hạnh, nếu không dễ đi vào tà đạo và nguy hiểm. Kỹ thuật hình dung là BÍ MẬT CỦA KỸ THUẬT THAM THIỀN HUYỀN MÔN như Chân sư DK nói. 

"ĐIỀU BÍ MẬT CỦA TẤT CẢ CÔNG VIỆC THAM THIỀN THẬT SỰ trong các giai đoạn đầu của nó là khả năng hình dung. Đây là giai đoạn đầu tiên cần được làm chủ. Các đệ tử nên đặt trọng tâm vào quá trình này; cuối cùng nó đưa đến khả năng sử dụng các năng lực sáng tạo của trí tưởng tượng, cộng với năng lượng trí tuệ, như là một biện pháp để thực hiên các mục tiêu của Thánh đoàn và thi hành Thiên Cơ. Tất cả các quy trình mới trong kỹ thuật tham thiền (mà Kỷ Nguyên Mới phải chịu trách nhiệm) phải và sẽ thể hiện hình dung là một bước cơ bản vì những lý do sau:

1. Hình dung là bước đầu tiên trong việc chứng minh định luật huyền bí “năng lượng đi theo tư tưởng”. Tất nhiên, tất cả mọi người quan tâm đến việc nghiên cứu huyền linh học đều công nhận điều này về mặt lý thuyết. Một trong những nhiệm vụ mà các đệ tử phải đối mặt là đạt được sự hiểu biết thực tế về điều này. Hình dung hình ảnh (pictorial visualisation)—vốn là một đặc tính xác định của công việc của nhiều trường huyền môn—chỉ đơn giản là một bài tập để tạo ra năng lực hình dung. Trong công việc của những đệ tử được đào tạo cho việc điểm đạo, khía cạnh ngoại tại này phải được thay thế bằng một tiến trình nội tâm là bước đầu tiên hướng đến việc điều khiển năng lượng. Việc hình dung hình ảnh nhằm tập trung người chí nguyện vào bên trong đầu, ở một điểm nằm giữa tuyến yên và tuyến tùng. Ở khu vực đó, y vẽ nên các bức tranh và hình dung các phong cảnh và nhờ đó hoạch đắc được năng lực để thấy—trong chi tiết và trong toàn thể—cái mà y mong muốn và dự định làm việc. Việc hình dung ra cái có thể gọi là “quá trình được hướng dẫn” tiếp tục một cách tập trung hơn và trong khu vực ngay xung quanh tuyến tùng. Tuyến tùng khi đó trở thành trung tâm của một từ trường được thiết lập—lúc đầu—bởi năng lực hình dung. Ở điểm đó, người đệ tử tập hợp năng lượng và sau đó với ý định hướng đến một luân xa nào đó. Tư tưởng được tập trung này tạo ra những hiệu ứng chắc chắn trong thể dĩ thái, và như thế hai khía cạnh của sự tưởng tượng sáng tạo hoạt động.

2. Khả năng hình dung là khía cạnh tạo hình thể của sự tưởng tượng sáng tạo. Quá trình này chia thành ba phần, tương ứng phần nào với quá trình sáng tạo của chính Thượng Đế:

a. Việc thu thập năng lượng đủ tiêu chuẩn vào vòng-giới-hạn.
b. Tập trung năng lượng này dưới sức mạnh của ý định, nghĩa là ở một điểm lân cận của tuyến tùng. Năng lượng giờ đây tập trung và không bị khuếch tán.
c. Việc phân phát năng lượng tập trung này bằng một quá trình hình ảnh (không phải bởi hành động của ý chí vào thời điểm này) theo bất kỳ hướng mong muốn nào—nghĩa là đến các trung tâm nhất định theo một trật tự nhất định.

Quá trình điều hướng năng lượng này có thể trở thành một thói quen tinh thần nếu các đệ tử bắt đầu làm việc đó chậm rãi và dần dần. Đầu tiên, quá trình hình dung có vẻ khó khăn và vô ích, nhưng nếu bạn kiên nhẫn, cuối cùng bạn sẽ thấy rằng nó trở nên dễ dàng và hiệu quả. Đây là một trong những cách quan trọng nhất mà một Chân sư làm việc; Do đó, điều cần thiết là bạn phải bắt đầu làm chủ kỹ thuật. Các giai đoạn là:

a. Một quá trình thu thập năng lượng.
b. Một quá trình tập trung.
c. Một quá trình phân phối hoặc điều hướng.

Người đệ tử học cách làm điều này ngay trong bản thân mình, và sau đó điều khiển năng lượng (một số loại năng lượng đặc biệt được lựa chọn, tùy theo yêu cầu của thời đại) đến nơi bên ngoài y. Điều này tạo thành, cho ví dụ, một trong những kỹ thuật chữa bệnh chính của tương lai. Nó cũng được Chân sư sử dụng để đánh thức đệ tử của Ngài đến những trạng thái tâm thức nhất định, nhưng bạn không liên quan gì với những điều này.

3. Khả năng hình dung đúng đắn là một phương thức xác định để xác tín đúng sai. Đây là một phát biểu khó để bạn hiểu. Hình dung theo nghĩa đen là việc xây dựng một cầu nối giữa cõi giới cảm xúc hoặc cõi trung giới và cõi trí, và do đó là một sự tương ứng phàm ngã đối với việc xây dựng antahkarana. Cõi trung giới, khía cạnh thứ hai của phàm ngã là sự tương ứng với khía cạnh xây dựng hình thể của Ba Ngôi, khía cạnh thứ hai. Sự tưởng tượng sáng tạo “hình dung một hình thể” thông qua khả năng hình dung và năng lượng tư tưởng của thể trí mang lại sự sống và định hướng cho hình thể này. Nó thể hiện mục đích. Do đó một mối quan hệ hoặc đường dây năng lượng được xây dựng giữa thể trí và thể cảm xúc, và nó trở thành một dòng ba năng lượng tam phân khi linh hồn của người đệ tử sử dụng quá trình sáng tạo này theo một số cách thức xây dựng và có kế hoạch.

Quá trình hình dung này và việc sử dụng trí tưởng tượng này tạo thành hai bước đầu tiên trong hoạt động tạo hình tư tưởng. Chính là với những hình thể tự tạo này – thể hiện ý tưởng thiêng liêng và mục đích thiêng liêng – mà các Chân sư làm việc và mục đích của Thánh đoàn hình thành. Do đó, chư môn đệ, điều cần thiết là các bạn phải quyết tâm bắt đầu và từ từ làm việc theo cách này, sử dụng những thông tin trên một cách xây dựng và sáng tạo. Sự cần thiết của thời đại đang ngày càng lớn và điều mong cầu là đạt tới tối đa công việc và mục tiêu."

Hoàng Quốc Khánh:


"Trong bài học này của Đức DK chúng ta mới thấy một kĩ thuật tưởng chừng như đơn giản, lại sâu xa và đầy tính huyền bí.

Những lời dạy của Ngài đầy tính trừu tượng, nếu chúng ta không đi sâu vào nghiên cứu, thì có lẽ chỉ chạm được vào chiếc áo đang che giấu chân lý ẩn tàng bên trong.

Kĩ thuật này bắt đầu với một định luật huyền bí “năng lượng đi theo tư tưởng”, có lẽ từng chữ này phải khắc sâu vào trong tư tưởng ta, bởi trọn vẹn tiến trình truy tìm Đường Đạo và trở thành Đường Đạo, nó luôn là thành tố không thể tách rời, và cho đến khi nào bí nhiệm ấy được khai mở, và thấm nhuần, thì con đường của ta sẽ còn nhiều khó khăn.

Chúng ta cần giải rõ từng chi tiết trong bài học này để có thể thấu triệt được, ít nhất là về mặt lý thuyết, trước khi có thể nghĩ đến việc thực hành các kĩ thuật huyền bí.

Kĩ thuật điều khiển năng lượng bắt đầu bằng “Việc hình dung được tập trung ở khu vực gần tuyến tùng, dần dần tuyến tùng trở thành trung tâm của bầu từ điển“. Khi tập trung ở vùng xung quanh tuyến tùng, ta kêu gọi hoạt động của linh hồn, hay ánh sáng từ linh hồn. Ánh sáng này soi sáng con đường đạo, đưa đến giải pháp cho tất cả vấn đề, và giúp ta đứng vững như một người mang ánh sáng. Nhưng trước khi có thể tập trung vào cơ quan này ở trong đầu, một vài điều kiện phải hoàn thành trước.

Ở giai đoạn đầu, bản chất tình cảm và các giác quan khai mở trước cái trí, luân xa tim khai mở trước luân xa đầu. “Con đường tinh luyện phải đi trước con đường giác ngộ”, tình thương phát triển trước, ánh sáng của quyền năng mới có thể sử dụng an toàn. Trong bài tham thiền về luân xa tim, chúng ta thấy, khi hoa sen luân xa tim mở ra và hiển lộ tình thương, thì hoa sen mười hai cánh tương ứng trong đầu cũng bừng nở, và hoa sen Chân Ngã, trú sở của Con người Tinh thần trên cõi thượng trí cũng bị kích thích. Tuyến tùng, từ trạng thái yếu ớt dần trở nên linh hoạt, đồng thời trung tâm ý thức chuyển từ thể tình cảm sang ý thức khai ngô của cái trí. Lúc này người đệ tử được hướng dẫn bởi sự hiểu biết trí tuệ, tình thương và thấu hiểu, nhờ sự siêu hóa tình thương, do khơi hoạt luân xa tim và sự chuyển dịch năng lượng từ luân xa tùng thái dương lên luân xa tim. Đây là kết quả của sự kiểm soát và chế ngự phàm ngã, thực hiện thông qua tình thương và phụng sự. Hoặc đây là kết quả của sự hiểu biết kỹ thuật tham thiền. Nhờ áp dụng định luật “năng lượng đi theo tư tưởng” , tham thiền giúp mang lại những khai mở và phát triển cần thiết. Khi luân xa tim được khai mở, sự soi sáng của cái tâm giúp hiển lộ con đường Đạo. Việc đánh thức luân xa tim, giúp đệ tử ý thức được luân xa tim trong đầu, và nhờ ý thức này, ta tiến lên hoa sen mười hai cánh – “hoa sen Chân Ngã”, trung tâm của Chân Ngã trên cõi thượng trí. Khi đi từ luân xa tim đến luân xa đầu, là sự tương ứng trong cơ thể của việc kiến tạo cây cầu Antahkarana trên cõi trí, tuyến thứ ba trong tuyến tam phân sáng tạo được thiết lập. Phàm nhân được tích hợp và sống động, đang cố gắng đồng nhất với,và đặt mình dưới sự kiểm soát của, linh hồn đang ảnh hưởng “Nó trở thành một dòng năng lượng tam phân khi linh hồn của người đệ tử sử dụng quá trình sáng tạo này theo một số cách thức xây dựng và có kế hoạch.”

Khi tham thiền tập trung trong đầu, tại điểm trong từ trường tuyến yên, nó khơi hoạt luân xa Ajna, và đồng thời, anh sáng trong đầu xuất hiện. Luân xa Ajna, hay bí huyệt giữa hai chân mày, như đức DK đã chỉ, thường được gọi là con mắt thứ ba, với chức năng độc đáo và đặc biệt. Thường thì chúng ta vẫn hay nhầm lẫn con mắt thứ ba với tuyến tùng quả. Những sự nhầm lẫn này, như Ngài nói, được cho phép cho đến khi người ta có nhiều hiểu biết hơn về bản chất dĩ thái của các hình tướng. Con mắt thứ ba này biểu hiện như là một kết quả của sự tương tác rung động giữa các năng lượng của linh hồn, tác động xuyên qua tuyến tùng quả với các mãnh lực phàm ngã, xuyên qua tuyến yên. Khi sự tương tác đủ mạnh, sẽ tạo ra ánh sáng trong đầu. Con mắt này được ví như con mắt tinh thần chỉ xuất hiện để đáp ứng với mặt trời tinh thần. Khi người tầm đạo phát triển ý thức về ánh sáng này, cơ cấu về bộ máy linh thị tăng lên và phát triển giúp anh ta có thể nhìn thấy sự vật trong ánh sáng tinh thần, và con mắt này xuất hiện trong thể dĩ thái. Con mắt này được gọi là con mắt của Shiva, trạng thái thứ nhất, khi trạng thái ý chí bắt đầu kiểm soát. Nhờ vào con mắt này mà linh hồn thực hiện được ba hoạt động. Đầu tiên, nó là phương tiện giúp linh hồn nhìn thấu được ánh sáng, ý tưởng thiêng liêng ẩn tàng sau mọi hình tướng, và tiếp xúc với linh hồn trong mọi hình hai. Thứ hai, toàn bộ công tác huyền thuật được thực hiện thông qua nó, với việc sử dụng ý chí sáng suốt. Linh hồn ở trên cõi giới của mình hiểu được các ý định và mục đích thiêng liêng của Thiên Ý, khi sự chỉnh hợp giữa các hạ thể đã chính xác, tạo điều kiện cho việc hiển lộ trạng thái ý chí và mang lại hiểu quả cho các cõi thấp. Ở đây, khía cạnh điều khiển năng lượng được thể hiện rõ rệt nhất, đó chính là việc kiểm soát qua năng lượng từ tính và lực hấp dẫn của con mắt tinh thần. Cuối cùng, nó chính là biểu hiện của trạng thái hủy diệt, công việc tống khứ các hình thức lỗi thời, phá vỡ các rào cản cho hoạt động của linh hồn.

Đối với công tác huyền thuật trên cõi trần, thông qua sự tác động của con mắt thứ ba, linh hồn kiểm soát những đường từ lực và các trung tâm lực nhờ sự tập trung chú ý và định hướng chúng vào các hoạt động đúng đắn. Đó là lí do vì sao “Tư tưởng được tập trung, tạo hiệu ứng chắc chắn lên thể dĩ thái”.

Quá trình tập trung mãnh liệt trong đầu và chuyển sự chú ý xuyên qua con mắt thứ ba về phía luân xa sẽ được sử dụng, giúp năng lượng tìm được lối ra chính xác của nó. Năng lượng này được làm mạnh lên bằng ý chí sáng suốt được định hướng và truyền năng lượng.

Cả ba hoạt động này của linh hồn tương ứng với ba trạng thái. Việc nhìn thấy ánh sáng trong mọi hình tướng nhờ con mắt thứ ba, tương tự như con mắt xác thịt nhìn ánh sáng mặt trời, là trạng thái phàm ngã. Khía cạnh kiểm soát nhờ năng lượng từ tính và hấp dẫn, tương ứng với linh hồn, vì linh hồn là biểu hiện của Bác Ái, trạng thái thứ hai. Cuối cùng khía cạnh hủy diệt, tương ứng với Chân Thần, vì chỉ có Ngài mới quyết định việc sáng tạo hay hủy diệt mọi hình thể, rút khỏi mọi biểu lộ.

Ta thấy bộ ba này được lặp lại tương ứng với tiến trình sáng tạo của Thượng Đế . Việc thu thập năng lượng hay vật chất đủ tiêu chuẩn vào vòng giới hạn, tương ứng với làn sóng sinh hoạt thứ nhất, Thượng Đế Ngôi Ba tuôn tràn sức sống của Ngài thông qua trạng thái Hoạt Động. Việc tập trung năng lượng hay vật chất, tương ứng với làn sóng sinh hoạt thứ hai, lực hấp dẫn từ tính giúp kiến tạo hình thế và tập trung, trạng thái Bác Ái của Thượng Đế Ngôi Hai. Việc phân phát các năng lượng tập trung này đến các trung tâm nhất định, nhờ ý chí sáng suốt, mục đích rõ ràng và được truyền năng lượng, tương ứng với Trạng Thái Ý Chí của Thượng Đế Ngôi Một. “Trên sao, dưới vậy”, những gì Đại Thiên Địa thể hiện, thì tiểu thiên địa cũng ẩn tàng một khả năng tương tự, khi ta vận dụng một cách hiểu biết kĩ thuật sáng tạo tương ứng như cách Thượng Đế đã làm, ta có thể đạt được mục tiêu đầy hứa hẹn mà Ngài đã vạch ra “Quá trình điều hướng này có thể trở thành thói quen tinh thần của người đệ tử”.

Ta thấy kĩ thuật này bao gồm nhiều hiệu quả mà nếu nghiên cứu kĩ, có thể trợ giúp rất nhiều cho người chí nguyện. Khi xem xét lại bài tham thiền chuyển hóa mãnh lực từ luân xa tùng thái dương lên luân xa Ajna, tiến trình trên được vận dụng triệt để. Nhờ trí tưởng tượng sáng tạo, hình dung mãnh lực chạy dọc xương sống đi vào trong đầu, giai đoạn thu gom mãnh lực hoàn tất, tại đây mãnh lực được hòa vào và trộn lẫn với đại dương tình thương thông tuệ. Năng lượng được thu thập và tập trung lại tại “một điểm trong não bộ”, vùng từ trường giao thoa giữa hai trạm phát năng lượng, tuyến yên và tuyến tùng. Hai giai đoạn đầu được thực hiện, chuẩn bị cho giai đoạn cuối, khi năng lượng được ban rải đến nhân loại thông qua luân xa Ajna. Như vậy, kĩ thuật chuyển hóa là một hệ quả của kĩ thuật hình dung.

Ta cùng quay lại với các hoạt động của linh hồn thông qua con mắt thứ ba. Hoạt động thứ ba với trạng thái hủy diệt, có tác dụng thanh lọc các hạ thể. Thể xác được loại bỏ các phần tử ô trược và thu nhận vào nó các hạt vật chất thanh khiết thuộc các cõi phụ cao. Thể cảm dục được ổn định, loại bỏ tính náo động vốn là đặc trưng của nó. Qua sự kiểm soát của con mắt tinh thần, thể cảm xúc được cố kết lại và trở nên vững chắc. Một tiến trình tương tự diễn ra ở thế trí, những hình thức cũ kỹ được loại bỏ, ánh sáng tinh thần đưa đến những nhận thức và hiểu biết mới, giúp thể trí trở nên tĩnh lặng, và trở thành vận cụ hoàn hảo cho người tri kiến thể hiện lý trí thuần khiết. Như vậy, việc loại bỏ các phần tử ô trược và khiến các Thái Âm Tổ Phụ phải rút khỏi các hạ thể, mang tính chất thanh lọc và tinh luyện, và ở đây ta thấy một hệ quả khác mà kĩ thuật hình dung mang lại.

Đối với người chí nguyện, mà mục tiêu của anh ta là thanh luyện, chuyển hóa, chế ngự các biến thái tư duy và bản chất thường thay đổi của cái tâm, và mục tiêu từ nhà thần bí học trở thành nhà huyền bí học, thấu hiểu các định luật huyền môn, và vận dụng đúng đắn trong các công tác phụng sự, thì kĩ thuật hình dung không chỉ đưa đến một phương cách hiệu quả nhất, mà phải trở thành nền tảng cho tất cả các quy trình của kĩ thuật tham thiền trong Kỉ Nguyên Mới này.

Khi nhìn vào khía cạnh thứ ba của kĩ thuật hình dung, chúng ta có thể đặt câu hỏi, liệu trong chúng ta, ai có khả năng phân biệt đúng sai? Từ trước đến nay, sự nhận thức của ta giới hạn trong thế giới hiện tượng, ba cảnh giới của nhận thức hạ trí, nhận thức cảm dục và cảm nhận của các giác quan trong thể xác. Trong giai đoạn tiến hóa hiện tại, chúng ta thuộc giống dân thứ tư, sự phân cực hầu như thể cảm dục, và tâm thức chúng ta vẫn đang trụ tại cõi trần. Khi tâm thức chúng ta trụ tại cõi trần, thì những sự kiện diễn ra ở đó trở thành thực tại đối với ta. Qua trung gian của các giác quan, tâm thức của ta đáp ứng với các kích thích ngoại giới, bởi những giới hạn trong nhận thức chúng trở thành những thực tại duy nhất mà chúng ta biết. Những thể thanh mà ta chưa kiểm soát được thì hoạt động vô thức trong nội giới,sự liên lạc giữa những gì nhận thức được ở mỗi cõi không thể truyền dẫn vì bị gián đoạn, vậy nên, bộ não hồng trần của ta không thể thu nhận những hiểu biết về những gì thể cảm dục hay thể trí của ta thu nhận được tại các cõi tương ứng. Chúng ta thậm chí còn không tin những giấc mơ, hay những cảm giác rung động sâu kín thuộc về cõi trung giới là thực, mà nghĩ rằng đó là những ảo ảnh mà tiềm thức tự sinh ra mỗi khi chúng ta chìm đắm trong cơn mộng mị, ta nghĩ rằng đó là các cảm xúc, hay cảm nhận của riêng mình, chứ không nhận thức đó cũng là những tác động từ ngoại cảnh giống như cõi trần, bởi vì với ta cõi đó là cõi ảo, dù thực sự cõi đó còn thực hơn cõi trần.

Mở rộng ra thế giới ở đó chúng ta “sống, hoạt động và hiện tồn”, vào giai đoạn này, không có hình thể nào là hoàn hảo hay tương xứng để phát biểu đầy đủ các ý tưởng hay sự sống ẩn ở bên trong. Tất cả những gì chúng ta thấy đều là các biến thái của tư tưởng. Toàn cả thế giới hình tướng là kết quả của hoạt động tư tưởng của Thượng Đế. Trong khi những sự hiểu biết, suy diễn và quyết định của ta đều dựa theo các dáng vẻ bề ngoài hay hình thể của một sinh linh thuộc một giới tiến hóa nào đó đang tự biểu lộ xuyên qua đó. Mọi hiểu biết ta có được nhờ việc tiếp xúc thông qua các giác quan thể hồng trần, thể vía hay thể trí đều không chứa đựng “thực tại”, bởi vì đó là hiểu biết có được từ các quan năng cấp thấp, dựa vào khía cạnh sắc tướng. Các cơ quan nhận thức của ta chưa được đẽo gọt, rèn giũa để trở thành một vận cụ cho Bản ngã thiêng liêng thể hiện các khả năng thiêng liêng của mình. Nhìn nhận một cách trung thực, ở trong giai đoạn tiến hóa hiện tại của ta, bản chất của các sinh linh cấu tạo nên các thể đã tỏ ra quá mạnh đối với Con người Nội tâm, chúng giam hãm con người thực và hạn chế các quyền năng của chân nhân. Các sinh linh này là các thực thể sống đang trên đường tiến hóa giáng hạ, đang hoạt động để biểu lộ. Vì chúng chỉ đi tìm trong lĩnh vực hiểu biết riêng những đáp ứng mà chúng ưa thích để đạt được mục tiêu tiến hóa riêng của mình, nên mục tiêu của chúng khác với mục tiêu của con người Nội tâm, ngăn trở sự tiến bộ và tự thức của Chân Nhân. Nhưng bởi sự vô minh, mà chúng ta đã tự đồng hóa với các thể của mình và trở nên bất toàn. Những dòng tư tưởng và dục vọng của ta, tạo ra vô số các hình tư tưởng được tạo ra trên cõi trí, cõi cảm dục, cõi trần. Chúng che án tầm mắt trước những điều thực tế, thế giới chân thực của các nguyên nhân và nguồn phóng mãnh lực. Ta bị lừa gạt và không thể phân biệt được điều chân và giả, điều đúng và sai, giữa sự sống tinh thần và thế giới hiện tượng.

Với mỗi người trong ta, giai đoạn này mục tiêu là tiếp xúc với Linh hồn và làm cách nào để hiển lộ các đặc tính của Ngài trọn vẹn nhất. Vậy thì, Thực tại chỉ tồn tại ở trên cảnh giới mà Vị Chúa Nội Tâm của chúng ta hoạt động. Chỉ có linh hồn mới nhận thức đúng và có “khả năng hình dung đúng đắn như là phương thức xác định để xác nhận đúng sai”, bởi vì đó là quan năng của Linh hồn. Chỉ có linh hồn mới có khả năng giao tiếp với mầm sống ở trong tâm của mọi nguyên tử. Chỉ có linh hồn mới là Người tri kiến, người mà lý trí thuần khiết có thể xuyên thấu mọi huyễn tưởng, ảo cảm, ảo ảnh ở trong tam giới, Người có thể nhận biết, trực thức và đồng nhất với mọi ánh sáng đang tìm cách biểu lộ trong tất cả các hình thể hữu tình đang trong tiến trình nhập thế.

Một đệ tử chuẩn bị được điểm đạo đã có sự tiếp xúc với chân ngã và đang tìm cách chuyển sự phân cực từ phàm ngã đang dần tích hợp lên đến thể nguyên nhân, đạt tới tâm thức của chân ngã thiêng liêng mà vẫn giữ nguyên tâm thức phàm ngã. Lúc này, thể nguyên nhân trở thành cơ quan trung ương. Linh hồn ở trên cõi giới của mình có thể nhận biết và đồng nhất được ánh sáng hay ý tưởng đang tìm cách biểu lộ ở cõi giới thấp từ các linh hồn khác, hoặc linh hồn có thể nắm bắt được các ý định hay mục đích từ Thánh Đoàn hay “trung tâm biết được Thiên Ý” và chuyển sự hiểu biết, hay ý tưởng xuống bộ não hồng trần, thông qua thể trí vì lúc này đường dẫn truyền từ linh hồn, qua phương tiện trung gian là thể trí tới não bộ đã trở nên thông suốt. Người đệ tử ấy trở thành người sáng tạo trên các cảnh giới trong tam giới.

Kĩ thuật hình dung dù mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ, khi nó không nhằm vào mục tiêu phụng sự mà bị lạm dụng cho các mục đích thấp kém hơn.

Đối với một thường nhân thì ý chí của y không đủ mạnh để làm sống động hình tư tưởng ấy, nhưng với những huynh đệ hắc đạo, mà trình độ của họ cũng không hề thua kém so với những người anh em hoạt động chân chính thì phương tiện này mang lại rất nhiều hiểm nguy. Chúng ta thử xem xét một trường hợp điển hình trong lịch sử, cuộc đời tên trùm phát xít Hitler. Trong giai đoạn hai thế chiến diễn ra, chủ nghĩa phát xít bùng nổ tại Ý, lan từ Châu Âu sang Châu Á và khi rơi vào tay Hitler,nó phát triển rực rỡ nhất tại Đức. Khi chúng ta xem xét theo quan điểm huyền bí, ta thấy rằng ẩn sâu trong hệ tư tưởng phát xít là một lý tưởng, khi chiếc nhân của nó được gieo một cách chủ đích và cụ thể, nó trở thành trung tâm trên cõi hạ trí, thế giới của năng lượng tư tưởng, nó liên tục thu hút vào trong chính nó những hạt vật chất cõi trí có các rung động tương đồng. Lúc này một hình tư tưởng được hình thành, năng lượng từ mục đích làm cho nó trở nên sống động. Lực hấp dẫn từ nó kéo vào Vòng giới hạn được thiết lập những rung động tư tưởng tương đồng, thu hút những kẻ sau này trở thành đồng bọn của tên trùm . Tư tưởng phát xít được hình thành từ khi hắn còn trẻ, và ngày càng ổn cố để rồi trở thành một thực thể có sức sống sinh động. Chính nhờ khả năng hiểu rõ các tiến trình tư duy của trí tuệ mà Himmler, cánh tay phải của Hitler, đã đưa ra phương thức bành trướng tư tưởng này qua câu nói “Một điều dối trá được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành chân lý”. Bản chất Trí tuệ chất hay các tinh linh cõi hạ trí không có ngã thức vì vậy chúng không có quan niệm đúng sai như cách chúng ta đánh giá các sự việc trên quan điểm đạo đức, chúng chỉ thực hiện những gì giúp cho con đường tiến hóa của chúng được thuận lợi. Môi trường cho tư tưởng này sinh sôi nảy nở, là nhờ khả năng đáp ứng nhạy bén nhu cầu của quần chúng, thời điểm người dân Đức bị tổn hại nặng nề về niềm tự hào dân tộc, vốn đã cạn kiệt lòng tin vào giới lãnh đạo, cùng sự phân hóa trong các giai cấp xã hội khi người Do Thái quá thành công trong lĩnh vực tài chính và cách họ cô lập với toàn thể dân tộc đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho Hitler và đồng bọn lan rộng tư tưởng phát xít của mình, và thực hiện kế hoạch xây dựng đế chế, chia rẽ,bài xích dân tộc Do Thái.

Tư tưởng phát xít là một mãnh lực hướng dẫn cho các hoạt động chiến tranh, nhưng động cơ nào giúp hình thành và phát triển? Ta đều biết, tất cả những gì chúng làm là để thỏa mãn những ham muốn bệnh hoạn, ích kỉ của cá nhân..những ham muốn sinh ra từ sự thôi thúc của Dục vọng. Trong tiến trình tinh thần đi sâu vào vật chất để thể hiện Ý Chí hiện tồn, Ý Chí phải khoác lên mình những lớp vỏ được cấu tạo từ vật chất của các cõi tương ứng. Giai đoạn đầu, những gì thu vén được là những nguyên tử ô trược nhất, cho đến khi xuống đến cõi cảm dục, Ý Chí khoác lên mình lớp áo cảm dục, vì chưa kiểm soát được nên Ý Chí hoàn toàn bị lệ thuộc, bị che án, và là nô lệ của sinh linh cảm dục thấp kém. Chính khi tập hợp một lớp vỏ cảm dục xung quanh mình, mà Ý Chí trở thành Dục vọng, đó chính là phản ảnh của Ý chí ở các cõi thấp. Nhờ Những đặc tính mạnh mẽ, truyền năng lượng và mục đích tiềm tàng, mà Ý chí mang lại sức sống cho lớp vỏ cảm dục thấp kém và trở nên mãnh lực thúc đẩy. Giai đoạn đầu của cuộc tiến hóa, hầu như mọi tư tưởng và hành động đều không thể tách rời dục vọng, chính xác hơn, tất cả đều phục vụ cho mục đích của Dục vọng. Khi kết hợp với tư tưởng phát xít, nó tạo thành một liên kết vững chắc, gần như là đồng nhất. Dục vọng là mãnh lực thúc đẩy, Tư tưởng là mãnh lực dẫn đường, thì tất yếu sẽ dẫn đến hành động để hiện thực hóa. Những hoạt động bên ngoài được thực hiện nhờ các phương tiện âm thanh và chữ viết. Hitler là một nhà hùng biện đại tài khi nhìn vào điểm nổi bật trong cuộc đời hắn là hơn 5000 bài diễn thuyết. Khả năng vận dụng ngôn từ và sự uyển chuyển trong hình thể trở thành vũ khí tối thượng của hắn, ở đây có sự tương đồng rõ rệt khi âm thanh và các vũ điệu chính là phương tiện các nhà Huyền Thuật sử dụng để điều khiển năng lượng. Một khả năng sáng tạo đáng sợ, được thực hiện nhờ việc nắm vững các quy luật huyền thuật.

Bài học ở đây là khi các quy luật huyền môn bị lạm dụng, và sức mạnh phá hoại được khai thác triệt để, thì hậu quả sẽ vô cùng khốc liệt. Việc này nhắc nhở chúng ta, hiệu quả của các quy luật là có thực, khi chúng ta bỏ ngoài tai những lời khuyên của các vị Huấn Sư Cao Cả, bởi sự trì trệ cố hữu nơi mình, chúng ta luôn có nguy cơ đi vào con đường hủy diệt, con đường đối nghịch với luật tiến hóa.

Trước mắt người tầm đạo chúng ta là hai con đường. Một con đường giáng hạ tiến hóa, dẫn vào vật chất sâu thẳm, con đường của kẻ thực hành hắc thuật, vốn là quyền năng của phàm nhân, và bị lệ thuộc vào các mục tiêu ích kỉ, với động cơ tư lợi và tham vọng. Ngày càng giam hãm vào ba cõi thấp, đóng cánh cửa đi vào Sự Sống. Con đường kia là hợp tác với các lực tiến hóa, hạ thấp tầm quan trọng của phàm ngã, luôn luôn thực hành huyền thuật của Thánh Đoàn , luôn hoạt động trong ánh sáng của linh hồn.

Một hướng đi đến cổng Thiên Đàng, một hướng đi xuống tận cùng của địa ngục."




Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

Thiền Quán

Tác giả: Không Không

Thực hành Thiền Quán để thấy được rung động của Tâm và các Thể.

Giới làm nền tảng cho định
Định hỗ trợ cho tuệ
Tuệ diệt trừ vô minh.

Thiền quán, hay còn gọi là thiền tuệ, giúp hành giả thấy được sự thật như nó là, giúp trí tuệ tăng trưởng, dần dần dẫn đến giác ngộ, giải thoát.

Bài viết này xin giới thiệu sơ qua cách thực hành để thấy được rung động (hay sinh diệt) của tâm và các thân thể, thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã của chúng, từ đó buông bỏ dần dần dính mắc giữa tâm và các thân thể, nhờ đó mà khổ đau sẽ dần dần được loại trừ. Tuy vậy, để chứng nghiệm được Niết Bàn và diệt trừ hoàn toàn khổ đau, thì cần nhiều hơn là phương pháp thực hành này.


Trước khi thiền quán nên thiền định, tức là nhập vào cận định hoặc một bậc thiền nào đó, khi đó tâm được tập trung, thanh tịnh, nhờ vậy mà quá trình thiền quán sẽ rõ ràng, sáng suốt hơn, đi sâu vào bản chất sự vật hơn.


Khi thực hành thiền quán mà tâm còn nhiều vọng tưởng, còn nhiều tư tưởng lăn xăn chạy trong đầu, thì sẽ rất khó để thấy sâu xa bản chất của sự vật, sẽ khó thấy sự thật như nó là. Thiền định giúp áp chế niệm tượng rất tốt.

Bài thực hành này nên thực hành thứ tự theo từng bước, từ thân xác đến cảm xúc, đến tư tưởng và đến tâm. Hay còn gọi là thể xác, thể vía, thể trí và tâm. Càng lên cao các thể càng thanh nhẹ và càng rung động nhanh hơn, vật chất cấu tạo nên chúng cũng thưa thớt và rời rạc hơn. Muốn thấy được cái rung động cao thì trước tiên ta phải thấy được cái rung động thấp.

Thứ tự thiền quán:
1. Quán thân (thể xác)
2. Quán cảm thọ (thể vía)
3. Quán tư tưởng (thể trí)
4. Quán tâm

I. QUÁN THÂN

Như tôi đã từng giới thiệu, toàn bộ thân xác chúng ta chỉ bao gồm 4 yếu tố, đó là:
- Chất đặc (đất)
- Chất lỏng (nước)
- Chất khí (gió)

- Chất ether (lửa)



Khi thực hành thiền quán, ta dùng tâm để ghi nhận/cảm nhận/nhận biết rung động của chúng thông qua các đặc tính sau đây:


1. Chất đặc: cứng và mềm
2. Chất lỏng: chảy và kết dính
3. Chất khí : vận động và lưu chuyển
4. Chất ether : nóng và lạnh, năng lượng hút và năng lượng đẩy trong cơ thể.


-Đầu tiên ta cảm nhận đắc tính cứng của răng hay của xương chẳng hạn. Sau đó, phát triển đặc tính cứng này ra toàn thân. Phải thấy được nó có ở toàn thân, chứ không phải chỉ có ở trên những bộ phận đặc cứng như ta thường nghĩ. Sau đó, cảm nhận đặc tính mềm trên toàn thân, rồi đến đặc tính chảy....đến đặc tính đẩy cuối cùng.



-Chánh niệm liên tục 10 đặc tính này trên toàn thân, cho tới khi nào ta có thể thấy cả 10 đặc tính trên toàn thân gần như trong cùng một lúc. 



-Giữ nó trong vòng nửa tiếng ta sẽ thấy thân được an tịnh và ánh sáng rực rỡ phát sinh, khi ấy ta đạt được cận định.


Lúc này, thể xác ta, cái mà ta thường chấp là một khối, giờ đây vỡ ra thành vô số hạt phân tử tròn nhỏ rung động liên tục, được gọi là các phân tử thể xác. Lúc này ta cảm nhận/thấy/nhận biết được rung động của các phân tử thể xác.


-Sau khi thấy được rung động của các phân tử thể xác, ta thấy rằng cả 10 đặc tính này cũng đều có trên cùng 1 phân tử riêng lẻ. Do đó, tiếp tục duy trì 10 đặc tính này trên các phân tử riêng lẻ trên toàn bộ thân xác (có hàng tỷ phân tử nhỏ bé này trên thân thể chúng ta).


-Duy trì ghi nhận liên tục trên chúng, ta sẽ thấy các phân tử này lại vỡ ra thành nhiều hạt nhỏ bé hơn, rung động nhanh hơn và nhẹ nhàng hơn, tôi gọi nó là các nguyên tử thể xác.


Sau khi thấy được các hạt nguyên tử thể xác, ta quán sát các tính chất của chúng như sau:



1. Các hạt nguyên tử thể xác này luôn sinh diệt (rung động) và thay đổi không ngừng, cho nên chúng là vô thường.



2. Các hạt nguyên tử thể xác này luôn bị sinh diệt và thay đổi, luôn chịu bức bách bởi sinh diệt và thay đổi, chúng không thể ngừng sự sinh diệt của chúng lại được, chúng không thể ngừng sự thay đổi của chúng lại được, nên chúng là khổ.


3. Vì chúng luôn luôn sinh diệt và luôn bị bức bách bởi sinh diệt, ta không thể ngừng tiến trình này lại được, ta không thể làm gì với sự sinh diệt, sự thay đổi của chúng, cho nên chúng là vô ngã, không phải là của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta.


-Sau khi quán sát thấy được tính vô thường, khổ, vô ngã của các hạt nguyên tử thân xác trong thân thể mình, ta cũng cần phải quán sát được rằng các vật chất thuộc cõi hạ giới , các vật chất thuộc cõi hạ giới của toàn bộ vũ trụ, cũng được cấu tạo bởi các nguyên tử thể xác và cũng có tính chất vô thường, khổ, vô ngã như vậy. 



-Rồi tiếp tục, ta cũng phải quán sát thấy rằng, các vật chất này, dù quá khứ, hiện tại hay vị lai, cũng đều có tính chất tương tự như vậy.


Đến đây, ta có thể chấm dứt phần quán Thân.

***Ta biết rằng vạn vật trong vũ trụ này là thay đổi và chuyển động không ngừng, bản chất của chúng là như vậy. Dù bạn có ý chí và có sức mạnh đến đâu, bạn không thể nào dừng sự thay đổi của chúng. Cái mà ta thấy vật chất đứng yên, thực chất chỉ là hình ảnh do mắt ta nhận được, chứ không phải là bản chất của vật ấy. Một vật, dù là bất cứ thứ gì trong vũ trụ này, sẽ không bao giờ có thể đứng yên một chỗ. Nếu vũ trụ này đứng yên 1 giây khắc nào, thì nó sẽ bị tan rã ngay lập tức.

Thân ta, cũng như các vật chất bên ngoài (sắc uẩn), được cấu tạo bởi những nguyên tử vô cùng nhỏ bé và thay đổi liên tục, cho nên thân ta và các vật chất cũng sẽ thay đổi liên tục. Nếu ta muốn chúng ngừng thay đổi, điều này là không thể nào. Cho nên, buông bỏ dính mắc với chúng là điều nên làm. Chấp nhận sự thay đổi của chúng, chúng có thể sinh, có thể già, có thể chết, có thể mất, có thể còn, có thể hư, có thể lành...đừng dính mắc vào chúng. Chấp nhận và để chúng tự nhiên như chúng là.
Khi quán thấy thân vô thường, khổ, vô ngã liên tục, tâm sẽ dần dần buông bỏ được thân. Khi kết thúc bài thiền bạn sẽ không còn cảm giác hay sức nặng của thân nữa. Đó là điều tuyệt vời bạn sẽ thấy được nếu thực hành đúng đắn và rốt ráo.

II. QUÁN CẢM THỌ

Cảm thọ là gì. Cảm thọ tức là những cảm giác, cảm xúc, tình cảm, dục vọng...của con người. Chúng được chi phối bởi sự rung động liên tục của thể vía, một thể vi tế hơn thể xác.

Cảm thọ gồm có 6 loại như sau:
1. Thọ khổ (thuộc về thân)
2. Thọ lạc (thuộc về thân)
3. Thọ ưu (thuộc về tâm)
4. Thọ hỷ (thuộc về tâm)
(Bốn thọ này được chi phối bởi phần cảm dục của thể vía)
5. Thọ xả (thuộc thân)
6. Thọ xả (thuộc tâm)
(Hai thọ này được chi phối bởi phần năng lượng astral của thể vía)

+ Thọ khổ: là những cảm giác đau đớn, ngứa ngáy, khó chịu, chói tai, đắng lưỡi...sinh ra ở 5 giác quan.
+ Thọ lạc: là những cảm giác khỏe khắn, dễ chịu, mát mẻ, êm ái...sinh ra ở 5 giác quan.
+ Thọ ưu: là những cảm xúc buồn rầu, lo lắng, sầu bi, ưu não, bực tức, khó chịu...phát sinh từ tâm.
+ Thọ hỷ: là những cảm xúc vui vẻ, hân hoan, hỷ lạc...phát sinh từ tâm.
+ Thọ xả: là cái không khổ không lạc, không hỷ không ưu, chỉ là cảm giác năng lượng.


-Đầu tiên, ta nên quan sát thọ khổ trên toàn thân trước. Mặc dù ta thấy rằng thọ khổ chỉ có ở một vài nơi nào đó trên thân thể, nơi mà ta có thể cảm nhận được nó khi nó mạnh lên, tuy vậy, thọ khổ là có mặt ở mọi nơi trong toàn thân thể. Lấy một thọ khổ nào đó mạnh mẽ trên thân, sau đó quán chiếu nó ra toàn cơ thể, bạn sẽ cảm nhận được nó có ở trong toàn thân.



-Sau đó, tiếp tục quán sát thọ lạc, thọ dễ chịu trên toàn thân. Tiếp theo là thọ xả thuộc về thân, thọ ưu, thọ hỷ, và thọ xả thuộc tâm. Lưu ý chỉ chú tâm vào các cảm thọ, không chú tâm vào các phần thân thể.


-Thực hành quán sát liên tục theo thứ tự thọ khổ --> thọ lạc --> thọ xả (thân) --> thọ ưu --> thọ hỷ --> thọ xả (tâm) cho đến khi ta có thể cảm nhận được 6 loại thọ này cùng một lúc trên toàn thân.

Giữ ghi nhận này trên một thời gian, ta sẽ thấy được toàn bộ các cảm thọ của chúng ta vỡ ra thành vô số hạt phần tử nhỏ khác nhau, tôi gọi nó là phân tử cảm xúc.



Lúc này ta sẽ thấy rõ ràng rung động của các hạt phân tử cảm thọ này.



-Sau đó tập trung vào các phân tử cảm thọ riêng lẻ, ta cũng thấy mỗi phân tử cũng bao gồm cả 6 loại cảm thọ trên. Tiếp tục quán sát 6 loại cảm thọ trên toàn bộ các phần tử cảm thọ riêng lẻ này, ta sẽ thấy các hạt này vỡ ra thành các hạt cảm thọ nhẹ hơn và rung động nhanh hơn, tôi gọi nó là các nguyên tử cảm thọ. 



-Tập trung vào sự rung động của các hạt nguyên tử cảm thọ này trên toàn thân một thời gian, ta sẽ làm triệt tiêu dần các cảm thọ có trên thân. 


Lưu ý những hạt nguyên tử cảm thọ này là những hạt vật chất nhỏ bé và vi tế, chúng nhỏ hơn và rung động nhanh hơn hạt nguyên tử thể xác rất nhiều, tuy vậy ta hoàn toàn có thể nắm bắt được chúng, do tâm ta rung động nhanh hơn chúng rất nhiều.


Sau khi thấy được các hạt nguyên tử cảm thọ, ta quán sát các tính chất của chúng như sau:



1. Các hạt nguyên tử cảm thọ này luôn sinh diệt (rung động) và thay đổi không ngừng, cho nên chúng là vô thường.



2. Các hạt nguyên tử cảm thọ này luôn bị sinh diệt và thay đổi, luôn chịu bức bách bởi sinh diệt và thay đổi, chúng không thể ngừng sự sinh diệt của chúng lại được, chúng không thể ngừng sự thay đổi của chúng lại được, nên chúng là khổ.


3. Vì chúng luôn luôn sinh diệt và luôn bị bức bách bởi sinh diệt, ta không thể ngừng tiến trình này lại được, ta không thể làm gì với sự sinh diệt, sự thay đổi của chúng, cho nên chúng là vô ngã, không phải là của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta.

-Sau khi quán sát thấy được tính vô thường, khổ, vô ngã của các hạt nguyên tử cảm thọ trong thể vía mình, ta cũng cần phải quán sát được rằng các vật chất thuộc cõi trung giới , các vật chất thuộc cõi trung giới của toàn bộ vũ trụ, cũng được cấu tạo bởi các nguyên tử cảm thọ và cũng có tính chất vô thường, khổ, vô ngã như vậy. 


-Rồi tiếp tục, ta cũng phải quán sát thấy rằng, các hạt cảm thọ này, dù quá khứ, hiện tại hay vị lai, cũng đều có tính chất tương tự như vậy.


Đến đây, ta có thể chấm dứt phần quán Cảm Thọ.


***Thể vía chi phối cảm thọ của chúng ta, được cấu tạo bởi vô số hạt nguyên tử cảm thọ khác nhau, chúng rung động liên tục với các tần số khác nhau để tạo nên các sắc thái và các loại cảm giác, cảm xúc khác nhau. Có vô số các tần số khác nhau cho nên cũng có vô số loại cảm thọ khác nhau, các cảm thọ là có nhiều vô kể và dao động theo một dải tần liên tục. Phân chia theo 6 loại là để ta dễ phân biệt và cảm nhận, chứ thực chất có vô số loại cảm xúc ứng với các tần số khác nhau, một trong số chúng được chúng ta đặt tên như vui, mừng, lo lắng, sợ hãi, đau đớn, buồn rầu, ngứa ngáy, khó chịu...


Có những loại cảm xúc phức tạp như hoang mang, bâng khuâng, buồn vui lẫn lộn...là sự kết hợp của nhiều nguyên tử cảm xúc khác nhau với những tần số dao động khác nhau.


Cảm xúc tương tợ như ánh sáng vậy. Ánh sáng là sóng điện từ có vô số tần số dao động khác nhau, mỗi tần số ứng với một màu ánh sáng, tuy vậy, khi nhìn lên cầu vồng, ta thường chia nó ra thành 7 màu khác nhau cho dễ phân biệt, nhưng thực chất chúng là có vô số màu. 


Mặc dù vậy, khi gộp chung tất cả ánh sáng với nhau, ta có được ánh sáng trắng. Khi gộp chung tất cả cảm xúc lại với nhau, ta có thứ được gọi là tình yêu. Tình yêu thực chất là sự trộn chung của vô số các cảm xúc khác nhau. Và từ tình yêu mà các cảm xúc khác có mặt.

Thể vía liên kết chặt chẽ với thể xác và thể trí, là cây cầu trung gian giữa thể xác và thể trí. Nó rộng hơn thể xác một chút (khoảng 20cm). Phần liên kết với thể xác tạo ra cảm giác, chủ yếu nằm phía trong thể xác. Phần liên kết với thể trí tạo ra cảm xúc, nằm cả bên trong và bên ngoài thân xác một chút. Khi thực hành thiền quán ta sẽ cảm nhận được chúng.

III. QUÁN TƯ TƯỞNG

Tư tưởng là gì? Tư tưởng là những quan niệm, những khái niệm, những định nghĩa, những suy nghĩ, tư duy, lập luận, phân tích, tính toán...của con người.


Tư tưởng do thể trí đảm nhiệm, có 4 phần chủ yếu:



1. Tưởng thô: bao gồm những ý nghĩ, kiến thức, khái niệm, tri thức, hiểu biết, các dữ liệu về âm thanh, hình ảnh, mùi vị...về sự vật, sự việc cụ thể, có thể định danh được, có thể nắm bắt được, có thể tưởng tượng ra được.



2. Hành thô: bao gồm việc tư duy, suy luận, tính toán, phân tích, nghiên cứu, lập trình...chủ yếu là chức năng xử lý các tưởng thuộc về phần thô.



3. Tưởng vi tế: bao gồm những quan niệm, định nghĩa, dữ liệu, kiến thức, hiểu biết...thuộc về sự vật sự việc siêu hình, trừu tượng, không thể tưởng tượng, không thể nắm bắt bằng khái niệm rõ ràng được. Ví dụ như thời gian, các cảm xúc, tình yêu, lòng tự hào, linh hồn, sự vô hạn, sự vô biên, Niết bàn, Thượng đế...


4. Hành vi tế: phân tích và xử lý các dữ liệu dưới dạng vi tế, trừu tượng, siêu hình.

Hãy tưởng tượng, tưởng giống như bộ nhớ máy tính, còn hành là con chip xử lý. Tưởng có chức năng lưu trữ, hành có chức năng xử lý. Tưởng và hành thường đi chung với nhau, ta gọi chúng là tư tưởng, là chức năng của thể trí.


Tưởng và hành cụ thể là những tư tưởng, suy nghĩ thông thường của chúng ta, cho nên đa phần ai cũng biết về nó. Tuy vậy, tưởng và hành vi tế rất khó thấy. Ta có thể biết về điều gì đó, tuy nhiên lại không thể diễn dịch nó ra được, gọi là tư tưởng vi tế.



Ví dụ khi ta nói về tình yêu chẳng hạn. Không ai có thể định nghĩa về tình yêu một cách rõ ràng được. Ta có thể biết yêu thực sự là gì, nhưng để tưởng tượng về nó, ta không thể làm được điều đó, bởi nó không phải là cái gì đó cụ thể để tưởng tượng được.



Cũng như sự vô biên chẳng hạn, làm thế nào dùng trí để thấy được cái vô biên. Ta chỉ có thể biết về nó, chứ không tưởng tượng được nó. 


Tưởng và hành vi tế này thường chi phối bộ khung nhận thức, tính tình, tính cách của một người trong nhiều kiếp sống.


-Sau khi nắm được 4 loại tư tưởng này, giờ đây ta hãy ghi nhận nó phát sinh trong mình:



+ Hãy quan sát những suy nghĩ trong mình, hay tưởng nhớ về một vật gì đó, nó có thể phát sinh ở bất kỳ đâu trong thân thể, hoặc ở ngoài thân thể một chút. Khi một suy nghĩ khởi lên, ta sẽ nhận thấy có một sự rung động nào đó nơi suy nghĩ đó phát sinh. Cố gắng ghi nhận nó và phát triển nó ra toàn cơ thể.



+ Sau đó, hãy khởi lên ý định đứng dậy, hoặc ý định giơ cánh tay lên nhưng đừng hành động, ta sẽ thấy có một dòng hạt rung động không ngừng bên trong cơ thể, hãy nắm lấy rung động đó và phát triển ra toàn cơ thể, cả bên trong lẫn bên ngoài thân thể 1 chút, khoảng 20-50cm.



-Liên tục ghi nhận 2 loại rung động này trên toàn thân, ta sẽ thấy các hạt phát ra ánh sáng đang rung động và thay đổi liên tục, ta có thể dùng tâm để quan sát được chúng. Đây là các hạt phân tử tư tưởng.


-Tiếp tục chú tâm và ghi nhận các hạt này, ta sẽ thấy chúng rung động nhanh hơn, sau đó chúng vỡ ra thành các hạt sáng nhỏ hơn và nhẹ hơn, hầu như ta không thể cảm nhận được khối lượng của chúng, chúng rung động rất nhanh và liên tục chuyển động. Đây chính là các hạt nguyên tử tư tưởng.


Sau khi thấy được các hạt nguyên tử tư tưởng, ta quán sát các tính chất của chúng như sau:



1. Các hạt nguyên tử tư tưởng này luôn sinh diệt (rung động) và thay đổi không ngừng, cho nên chúng là vô thường.



2. Các hạt nguyên tử tư tưởng này luôn bị sinh diệt và thay đổi, luôn chịu bức bách bởi sinh diệt và thay đổi, chúng không thể ngừng sự sinh diệt của chúng lại được, chúng không thể ngừng sự thay đổi của chúng lại được, nên chúng là khổ.


3. Vì chúng luôn luôn sinh diệt và luôn bị bức bách bởi sinh diệt, ta không thể ngừng tiến trình này lại được, ta không thể làm gì với sự sinh diệt, sự thay đổi của chúng, cho nên chúng là vô ngã, không phải là của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta.


-Sau khi quán sát thấy được tính vô thường, khổ, vô ngã của các hạt nguyên tử tư tưởng trong mình, ta cũng cần phải quán sát được rằng các hạt tư tưởng thuộc cõi thượng giới, các hạt tư tưởng thuộc cõi thượng giới của toàn bộ vũ trụ, cũng được cấu tạo bởi các nguyên tử tư tưởng và cũng có tính chất vô thường, khổ, vô ngã như vậy. 



-Rồi tiếp tục, ta cũng phải quán sát thấy rằng, các hạt tư tưởng này, dù quá khứ, hiện tại hay vị lai, cũng đều có tính chất tương tự như vậy.


Đến đây, ta có thể chấm dứt phần quán Tư Tưởng.


***Để tôi ví dụ sự khác nhau các hạt cho các bạn thấy, các bạn có thể tưởng tượng chúng như là các hạt này cũng được (mặc dù chưa được chứng minh). Như hạt nguyên tử thể xác, bạn có thể xem chúng là các hạt nhân nguyên tử, hạt nguyên tử cảm thọ là các hạt âm điện electron, còn nguyên tử tư tưởng là các hạt sáng photon. Các hạt càng lên cao càng thanh nhẹ và vi tế hơn rất nhiều so với các hạt thấp hơn. Càng lên cao chúng càng rung động nhanh hơn.


Tuy vậy, chúng lại có liên kết chặt chẽ với nhau trong cơ thể, đảm nhiệm các chức năng khác nhau và là công cụ, phương tiện để tâm sử dụng cho mục đích trải nghiệm và sáng tạo của mình trong tam giới. Chúng cũng là các hạt cơ bản cấu tạo nên 3 cảnh giới hạ giới, trung giới và thượng giới của Trái Đất.

IV. QUÁN TÂM


Tâm là gì. Tâm là sự ghi nhận, nhận biết, cảm nhận hoạt động của các đối tượng là các thể và môi trường xung quanh. Tâm cung cấp một phần năng lượng cho các thể hoạt động và điều khiển chúng. Tuy vậy, không phải lúc nào tâm cũng điều khiển được các thể, ngoại trừ những người đã biết tâm là gì và trụ được tâm thức trên tâm.



Nhờ có tâm mà ta có thể ghi nhận được rung động của các hạt nguyên tử thể xác, cảm thọ và tư tưởng. Tâm dẫn đầu các pháp và điều khiển các pháp.


Tâm được ví như môi trường, không gian chứa các hạt nguyên tử thể xác, nguyên tử cảm thọ, nguyên tử tư tưởng, cho nên bất kỳ hoạt động nào của chúng, tâm đều nhận biết và ghi nhận được cả.


Thiền quán thực chất là dùng tâm để quán.


Sau khi đã thực hành quán sát thân, cảm thọ, tư tưởng, giờ đây ta bắt đầu quán sát tâm. Cần dùng cái gì để quán sát tâm. Đó là dùng tâm để quán sát tâm.


Khi quán sát các thể, ta sẽ thấy có một cái gì đó ghi nhận và nhận biết các thể, đó chính là tâm. Vì vậy, muốn biết về tâm, ta chỉ cần tập trung vào sự ghi nhận/nhận biết mà thôi, bỏ qua tất cả các đối tượng khác.


Ta thấy rằng tâm sẽ sinh lên và diệt đi liên tục để nắm bắt lấy các đối tượng. Mỗi 1 lần sinh lên và diệt đi (rung động), tâm chỉ bắt duy nhất một đối tượng, như là một hình ảnh, một âm thanh, một cảm xúc, một tư tưởng...Vì tâm rung động rất nhanh,khoảng chục triệu lần trên giây, nên ta thấy tâm có vẻ như là liên tục và là một khối, tuy vậy, tâm cũng được cấu tạo bởi những hạt rất nhỏ và rung động rất nhanh.

-Chú tâm liên tục vào sự ghi nhận/nhận biết, dần dần ta sẽ cảm nhận được rung động của tâm. Chỉ nên thực hành quán tâm khi ta đã thực hành thuần thục quán thân, quán cảm thọ và quán tư tưởng, bởi tâm rất vi tế nên không dễ dàng để thấy rung động của nó khi nó vẫn còn dính chặt vào các thể.


Nếu thực hành đúng, ta sẽ thấy có một tâm khởi lên bắt lấy đối tượng, sau đó một tâm liền kề ghi nhận tâm bắt đối tượng đó, tiếp theo một tâm khởi lên bắt đối tượng khác, và có một tâm liền kề sinh lên ghi nhận tâm ấy, cứ liên tục như vậy. Chúng diễn ra tự nhiên và liên tục như vậy mà không có sự tác ý nào khởi lên từ sự ý thức chủ quan của ta. Nó diễn ra một cách tự động. Thực hành đúng đắn sẽ thấy điều đó.


-Quá trình này diễn ra tự động và liên tục như vậy, trong một thời gian dài, dần dần ta sẽ nhận thức ra rằng thực ra có vô số hạt cấu tạo nên tâm đang cùng nhau sinh lên và diệt đi để bắt lấy đối tượng. Dần dần ta sẽ thấy chúng rõ ràng hơn, đó là các hạt nguyên tử cấu tạo nên tâm.

Giờ đây, ta sẽ quán sát các nguyên tử cấu tạo nên tâm này là vô thường, khổ, vô ngã:


1. Các hạt nguyên tử này luôn sinh diệt (rung động) và thay đổi không ngừng, cho nên chúng là vô thường.



2. Các hạt nguyên tử này luôn bị sinh diệt và thay đổi, luôn chịu bức bách bởi sinh diệt và thay đổi, chúng không thể ngừng sự sinh diệt của chúng lại được, chúng không thể ngừng sự thay đổi của chúng lại được, nên chúng là khổ.


3. Vì chúng luôn luôn sinh diệt và luôn bị bức bách bởi sinh diệt, ta không thể ngừng tiến trình này lại được, ta không thể làm gì với sự sinh diệt, sự thay đổi của chúng, cho nên chúng là vô ngã, không phải là của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta.

Ta cũng quán sát rằng tâm dù ở thế giới này hay thế giới khác, của người này hay của người khác, ở quá khứ hiện tại hay vị lai, đều có cùng tính chất như vậy.


Nếu tâm không phải là ta, thì cái gì mới thực sự là ta? Khi nào chứng được Niết Bàn, bạn sẽ biết điều đó.


Nhiều người nói rằng Niết Bàn là cái đại ngã, cái ngã to lớn, bao gồm hết mọi cái ngã trong đó. 

Nhiều người nói rằng nó không thuộc về của ai hết, không lệ thuộc vào bất kỳ yếu tố nào hết, cho nên nó là vô ngã.


Đối với tôi, Niết Bàn là trạng thái thoát khỏi tham sân si, là trạng thái không có khổ đau, không có sinh diệt, chỉ có sự an lạc, bình yên và hợp nhất.


Khi bạn thực hành pháp quán này một cách thuần thục, dần dần bạn sẽ buông bỏ dần sự dính mắc giữa tâm và các thân thể, do đó mà khổ đau dần đần được giảm trừ.



Sau đó, nếu quán tâm một cách thuần thục, bạn sẽ dần dần buông bỏ được tâm, buông bỏ được ngã thức. Nếu có đủ ba la mật và trí tuệ sắc bén, bạn sẽ chứng ngộ được Niết Bàn, là cái không sinh diệt, không khổ đau, là cái thường hằng, bất biến, an lạc và thanh tịnh.



Đủ ba la mật là gì? Là thực hiện đầy đủ 10 pháp ba la mật, gồm có: bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết định, tâm từ, tâm xả (tâm buông bỏ).


Trí tuệ sắc bén là gì? Đó là hiểu biết rõ ràng khổ, nguyên nhân của khổ, con đường diệt khổ, luật nhân quả và luân hồi, bản chất vô thường, khổ, vô ngã của mọi vật, bản chất sinh trụ dị diệt của vạn vật thế gian.

Chúc các bạn an lạc và sớm chứng ngộ Niết Bàn.

Nguyện cho vạn vật được thái bình,
Mong cho tất cả sớm thoát khỏi mọi khổ đau