Tác giả: Thầy Hiếu Đức
Thầy Tử Vi mà chỉ chăm chăm khuyên người ta sống đạo đức, nhiều khi lại đang đi nghịch thiên đạo.
Nói câu này chắc chắn sẽ có người phản đối và la tôi. Chẳng lẽ xem mệnh lại không khuyên người hướng thiện rồi đã đọc Liễu Phàm Tứ Huấn chưa v...v... ? Chẳng lẽ thấy người tham mà không khuyên bớt tham, thấy người nóng mà không khuyên bớt nóng, thấy người cố chấp mà không khuyên biết buông? Nhiều người chắc còn đem cả lời Phật dạy ra để tranh luận
Nhưng thưa là ý tôi không phải thế. Vấn đề nằm ở chỗ: nếu người xem mệnh lấy một hình mẫu đạo đức có sẵn trong đầu mình rồi đem tất cả mọi người sửa cho giống hình mẫu ấy, thì lúc đó cái được gọi là “khuyên thiện” rất dễ trở thành lấy **nhân ý thay thiên ý**, lấy quan niệm riêng của mình cưỡng vào thiên tính - thiên tư của người khác.
Như Lai cũng phải đúng và đủ duyên mới chỉ đúng người. Nên đó mới là chỗ cần suy nghĩ anh chị à.
Hoàng Đế Âm Phù Kinh mở đầu không nói thiện, không nói ác, cũng không bảo con người phải trở thành một kiểu người nào. Kinh chỉ nói:
Quan thiên chi đạo, chấp thiên chi hành, tận hĩ.
Nghĩa là quan sát đạo của Trời, nắm lấy sự vận hành của Trời, vậy là đủ. Chữ quan ở đây rất quan trọng. Trước khi sửa, phải thấy. Trước khi phán xét, phải hiểu. Tước khi hỏi một người nên trở thành ai, phải nhìn cho rõ : Trời đã đặt trong người ấy cái gì, cái gì đang vận hành, nó sinh từ đâu, nó sẽ đi về đâu và khi nào nó chuyển từ sinh sang sát.....
Một lá số, nếu thực sự có giá trị, không phải là bản danh sách những tính tốt để khen và những tính xấu để sửa. Nó phải cho ta thấy cấu trúc thiên tính của một con người: cách họ tiếp nhận thế giới, cách dục vọng phát sinh, nơi họ mạnh, nơi họ dễ đi quá cực, thứ gì làm họ thành tựu và cũng chính thứ ấy có thể khiến họ thất bại.....
Bởi Âm Phù Kinh nhìn vạn vật không bằng cái nhìn tĩnh. Nó nhìn bằng CƠ. Cho nên ngay sau câu “Quan thiên chi đạo”, kinh nói:
“Thiên hữu ngũ tặc, kiến chi giả xương " hay Trời có năm tặc, thấy được thì thịnh. Lại nói “Ngũ tặc tại tâm, thi hành ư thiên. Năm tặc ở trong tâm, mà thi hành ở trời.
Chỗ sâu nằm ở chữ tặc. Các chú giải cổ thường liên hệ ngũ tặc với ngũ hành. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vốn chính là khí làm nên sự sinh thành của vạn vật; nhưng cũng chính năm khí ấy tương khắc, tương đoạt, làm cho vạn vật suy, biến và diệt. Vì vậy có chú giải nói đại ý: dùng không khéo thì thành tặc; nhận ra được cơ chế chế hóa của nó thì lại thành phúc.
Vậy mới thấy tư tưởng của Âm Phù Kinh khác hẳn lối chia đời sống thành hai cái hộp: một bên tốt, một bên xấu. Cùng một thứ khí, thuận cơ thì sinh, nghịch cơ thì sát. Cùng một thiên tính, đúng thời đúng chỗ thì thành năng lực; đi quá độ thì thành tai họa.
Người vừa chào đời là thọ bẩm ngũ hành, thông qua tử vi/ bát tự mà đọc khí, cho nên cái mà người xem mệnh phải nhìn không phải trước hết là ĐỨC TÍNH mà là CƠ TÍNH
Không chỉ hỏi: Người này có tính gì? Mà phải hỏi: Cái tính này vận hành theo cơ chế nào, mô thức nào Đến mức nào thì nó thành? Đến mức nào thì nó phản? Trong hoàn cảnh nào nó cứu người ấy? Trong hoàn cảnh nào chính nó làm hại người ấy?”
Đó là lý do tôi cho rằng rất nhiều cái gọi là “tính xấu” chưa chắc cần bị tiêu diệt. Nó có thể chỉ là một thiên tính chưa được hiểu, chưa được đặt đúng chỗ hoặc chưa trưởng thành. Một thứ khí mạnh khi còn vô thức thường biểu hiện rất thô. Nhưng chính khí ấy, sau nhiều năm trải nghiệm, thất bại, phản tỉnh và tự hiểu mình, có thể trở thành một năng lực rất lớn.
Bởi vậy, trưởng thành không nhất thiết là biến mình thành một người hoàn toàn khác. Trưởng thành nhiều khi chỉ là cùng một thiên tính ấy nhưng cách sử dụng đã khác. Từ bản năng sang ý thức, từ phản ứng sang lựa chọn, từ quá cực trở về đúng độ, từ bị thiên tính sai khiến sang biết vận dụng thiên tính.
Đó mới là “kiến chi giả xương” thấy được nó thì mới có khả năng dùng nó.
Thầy Tử Vi xem mệnh, mà vừa cầm lá số lên bảo đứa trẻ này sẽ hư, anh kia sẽ phá, cô nọ sẽ 2 lần đò, tôi bảo vạn lần là tiền nhân học đạo từ xưa đến nay không ai " vội " như thế....
Nhưng, tôi còn muốn nói cái khó hơn nữa nằm ở chiều ngược lại. Nếu tính xấu chưa chắc hoàn toàn xấu, thì tính tốt cũng chưa chắc vĩnh viễn là tốt.
Âm Phù Kinh nói một câu cực kỳ hay: “Thiên sinh thiên sát, đạo chi lý dã. Trời sinh, Trời sát, đó là lý của Đạo. Sinh và sát không phải hai thế lực đứng ở hai đầu để đánh nhau. Sát nằm ngay trong sinh và Sinh cũng ẩn ngay trong sát.
Vì thế kinh lại nói: “Sinh giả tử chi căn, tử giả sinh chi căn. Ân sinh ư hại, hại sinh ư ân.” Cái thành và hoại gốc rễ từ nhau, Ân có thể sinh từ hại, mà hại cũng có thể sinh từ ân. Đây mới chính là chỗ người học mệnh phải cực kỳ tỉnh táo. Một phẩm chất hôm nay đang giúp ta sống rất tốt có thể chính là nơi tai họa ngày mai phát sinh. Không phải vì phẩm chất ấy vốn xấu. Mà bởi bất kỳ cái gì khi bị đóng cứng thành bản ngã, được bảo vệ quá mức, được đẩy quá giới hạn của nó, đều có khả năng phản chuyển.
Cái ta gọi là “tôi tốt” cũng vậy. Ban đầu chỉ là một phẩm chất. Sau đó ta nhận nó làm căn cước. Rồi từ căn cước sinh ra nhu cầu bảo vệ. Tôi phải là người tử tế, tôi phải là người chính trực, tôi phải là người có tình có nghĩa, tôi phải là người đúng. Đến đây, cái tốt bắt đầu có nguy cơ biến chất.
Bởi từ lúc ấy, điều ta bảo vệ không còn là thiện nữa. Ta đang bảo vệ hình ảnh của chính mình về cái thiện. Và con người có thể làm những chuyện rất dữ để bảo vệ hình ảnh mình là người hiền. Có thể vô tình làm tổn thương người khác để bảo vệ hình ảnh mình là người chính trực. Có thể cố chấp đến cùng để chứng minh mình sống có nguyên tắc. Có thể không bao giờ nhận lỗi bởi vì nhận lỗi đồng nghĩa với việc cái bản ngã “tôi là người đúng” bị lung lay.
Đó là lý do một cái tốt nếu không tiếp tục trưởng thành thì cũng có thể quay trở lại thành cái xấu. Không phải thiện biến thành ác một cách thần bí. Mà vì **sinh đến cực thì sát cơ đã bắt đầu nảy sinh từ bên trong chính cái sinh ấy**. Đây chính là cái nhìn rất đặc biệt của Âm Phù Kinh.
Nó không hỏi một vật được gọi là gì. Nó hỏi **cơ của vật đang chuyển về đâu**. Bởi thế kinh mới viết: “Tâm sinh ư vật, tử ư vật, cơ tại mục.” Tâm sinh bởi vật, cũng tan ra bởi vật; cái cơ nằm ở chỗ thấy. Thấy, vì vậy, quan trọng hơn phán xét.
Người chưa thấy mình thì thường sống theo tên gọi. Tôi là người thế này, Tính tôi vốn thế , Tôi trước giờ luôn sống như vậy.” Người bắt đầu thấy mình thì không còn quan tâm nhiều đến cái tên. Họ bắt đầu quan sát chuyển động.
Cơn giận này từ đâu đến? Sự tử tế này có thật sự vì người kia hay đang bảo vệ nhu cầu được công nhận của mình? Cái gọi là nguyên tắc này đang giữ mình khỏi sai hay đang giúp mình tránh phải thừa nhận rằng mình đã sai? Lòng hy sinh này thật sự tự nguyện hay phía sau đã bắt đầu hình thành một món nợ?
Đó chính là học nhìn **cơ**. Và đây cũng là chỗ mà việc xem Tử Vi có thể trở thành một phương tiện rất sâu để hiểu người.
Cho nên một người thầy giỏi không cố biến mọi người thành hiền lành. Cũng không cố biến mọi người thành buông bỏ. Có người phải học tiến. Có người phải học lui. Có người phải học tranh và người học dừng. Có người cả đời bị dạy phải nhường, đến lúc trưởng thành lại phải học cách nói “không”. Có người cả đời chỉ biết giành, đến lúc trưởng thành lại phải học cách không cần thắng.
Không có một đơn thuốc đạo đức dùng chung cho mọi thiên tính. Bởi *thuận thiên không phải thuận theo một tiêu chuẩn đạo đức cố định, mà là thuận theo cái CƠ khiến sự sống được đặt về đúng vị trí của nó.
Nhưng cần phân biệt rất rõ một điều khác. Hiểu thiên tính không có nghĩa là dung túng bản năng. Nói “tôi trời sinh như vậy” rồi mặc nhiên cho mình quyền làm tổn thương người khác thì không phải thuận thiên. Đó chỉ là dùng chữ “mệnh” để hợp thức hóa sự thiếu trưởng thành.
“Tính hữu xảo chuyết, khả dĩ phục tàng… tri chi tu luyện, vị chi thánh nhân.”** Tính có khéo có vụng, nhưng có thể chế phục, ẩn tàng; biết được rồi tu luyện, ấy gọi là Thánh nhân.
Biết mệnh rồi mới luyện mệnh, không biết thì chỉ đàn áp. Đàn áp không phải trưởng thành. Một người vốn nóng bị ép phải hiền có thể chỉ biến thành một người nóng nhưng biết giấu. Một người ham muốn quyền lực bị dạy phải khiêm nhường có thể chỉ học được cách dùng dáng vẻ khiêm nhường để tìm quyền lực tinh vi hơn. Một người nhiều dục vọng bị dạy rằng dục vọng là xấu có khi không bớt dục, mà chỉ học cách tự kết tội mình.
Cho nên sửa tính mà không hiểu căn nguyên đôi khi chỉ thay hình thức, không chuyển được cơ.
Tu luyện thật sự phải bắt đầu từ thấy.
Thấy thiên tính, thấy dục vọng và thấy cái giá phải trả nếu cứ đi theo quán tính cũ. Rồi từ đó làm cho cùng một dòng năng lượng ấy đổi cách vận hành.
Bởi vậy tôi càng ngày càng thấy rằng một người xem Tử Vi không nên tự xem mình là quan tòa đạo đức mà chắc gì thầy Tử Vi đã sống đủ đạo đức để thực hiểu nó ??
Nước không tốt cũng không xấu. Nhưng nước đi sai thế thì thành lũ. Nước được dẫn đúng thế thì nuôi cả cánh đồng. Thiên tính con người cũng vậy.
“Tự nhiên chi đạo tĩnh, cố thiên địa vạn vật sinh. Thiên địa chi đạo tẩm, cố âm dương thắng. Âm dương tương thôi, nhi biến hóa thuận hĩ.”
Đạo tự nhiên vốn tĩnh; âm dương tương thôi, nhờ vậy biến hóa được thuận. “Thuận” ở đây không phải mọi chuyện đều dễ dàng, càng không phải thích gì làm nấy. Thuận là không cưỡng lại quy luật của sự chuyển hóa. Biết trong sở trường đã xuất hiện mầm của sở đoản. Biết cái từng cứu mình ngày trước có thể đang trở thành thứ giam mình hôm nay.
Và có lẽ đó mới là ý nghĩa sâu nhất của chuyện hiểu mệnh
Hiểu mệnh không phải để nói: “Tôi sinh ra như vậy nên tôi không thay đổi được.” Cũng không phải để nói: “Cái này xấu, phải diệt nó đi.”
Mà là nhận ra: Ta được trao cho một thiên tính, nhưng ta không bắt buộc phải sống mãi ở tầng thấp nhất của thiên tính ấy.
Mệnh cho ta chất liệu, đời cho ta hoàn cảnh, va chạm cho ta bài học. Còn trưởng thành là việc của chính ta.
Người thầy Tử Vi vì thế không nên tìm cách biến thiên tính thành đạo đức. Mà phải giúp một người thấy được đạo nằm ngay trong thiên tính của họ.
Tôi mong anh chị luôn hiểu rằng điều quan trọng không phải hôm nay ta gọi mình là thiện hay ác. Điều quan trọng là: cái đang vận hành trong ta, nếu tiếp tục đi theo hướng này, cuối cùng sẽ sinh ra điều gì?* Đó là câu hỏi của “cơ”. Mà thấy được cơ, có lẽ mới bắt đầu hiểu được câu đầu tiên của Âm Phù Kinh:
**“Quan thiên chi đạo, chấp thiên chi hành, tận hĩ.”**
Không lấy cái tôi để sửa Trời. Không lấy đạo đức của mình để ép thiên tính của người khác. Thấy thiên tính. Hiểu sinh sát. Biết thuận nghịch.
Ấy mới là xem mệnh để thuận Thiên đạo.
Lành thay
Thưa vậy