Hiển thị các bài đăng có nhãn Psychology. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Psychology. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2024

Hóa giải oan gia

Đôi khi người mà chúng ta yêu thương nhất lại là người khiến ta tổn thương sâu sắc nhất. Vậy nên làm thế nào để chuyển hoá một mối quan hệ độc hại trở nên tốt đẹp hơn?

1. Hồi hướng

Nhân duyên giữa chúng sinh được chia thành thiện duyên, nghiệt duyên, và ác duyên. Khi muốn chuyển hoá một người từ ghét sang yêu quý mình, cách tốt nhất là bạn nên hồi hướng công đức cho họ. 

Hằng ngày sau khi tu tập hoặc làm được bất kì việc thiện nào, quý vị có thể hồi hướng một cách chân thành tha thiết:

Với mọi thiện hạnh mà con có được nhờ bố thí, trì giới, nghe pháp, phóng sinh, giúp đỡ người khác… Xin cho con và … thiện duyên tăng trưởng, tịnh hoá được các nghiệp xấu và oan trái/ Xin cho họ yêu quý và chung thuỷ/chung thành với con. 

Sau một thời gian tích phước hành thiện và hồi hướng như vậy hằng ngày, thì chắc chắn người thù ghét, khắc khẩu, bội bạc, oan gia ngõ hẹp cũng sẽ dần yêu quý bạn 🫶

2. Tin vào luật nhân quả:

Khi một người nói xấu, chửi mắng, hãm hại ta thì họ đang giúp ta trả nợ nghiệp. Bởi vậy, các bậc thầy khuyên chúng ta hãy hoan hỉ đón nhận khi gặp người làm hại mình. Nhờ họ mà ta hết nghiệp nhanh hơn (tội diệt thì phước tăng).

Xa hơn nữa, chúng ta thậm chí còn phải cảm ơn họ vì đã giúp ta luyện tập hạnh nhẫn nhục, hạnh từ bi hỷ xả. 

Ở mức độ tu tập cao, hành giả còn quán kẻ thù là Guru, là người giúp mình rèn luyện tâm thức, tu tập tinh tấn hơn. 

Trong cuộc đời Đức Phật, người em họ Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) luôn luôn tìm mọi cách hãm hại ngài. 

Nhưng thật ra, không phải chỉ có kiếp này mà các kiếp khác vị đó cũng luôn ám hại Đức Phật. Tại sao lại như vậy?

Có nhiều sách viết rằng Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) thật ra là một vị Bồ tát phát nguyện luôn đi theo, để giúp Đức Thế Tôn nhanh chóng đạt được giác ngộ. 

Điều này cũng thường xuyên xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, đôi khi những người tổn hại ta lại là động lực lớn nhất để mình nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ. Bởi vậy, thay vì đau khổ hay tìm cách trả thù, hãy cảm ơn vì họ khiến chúng ta trở nên mạnh mẽ và hoàn hảo hơn💫. 

3. Thiền quán từ bi, thiền quán vô thường 

Nhà Phật tin rằng mọi chúng sinh đều trải qua vô số kiếp sống. Có những người mà trước kia ta nợ họ, thì kiếp này họ sẽ trở thành oan gia của ta. Nếu chúng ta cố tình làm tổn thương, gây gổ, nói xấu, trả thù lại thì mọi việc giống như 1 vòng tròn luân hồi, không bao giờ thấy hồi kết.

Theo quy luật vô thường, không có mối thù nào là mãi mãi. Những người mà ta ghét bây giờ có thể trước kia đã từng là cha mẹ, con cái, vợ chồng của ta. Khi một người hại ta thì chắc chắn họ cũng không hạnh phúc (vì thù hận một người cũng giống như tự uống thuốc độc nhưng lại mong muốn người khác c h ế t)

Ai cũng có oan gia trái chủ, nếu chúng ta không tập quán từ bi, quán vô thường, không tu tập nhẫn nhục thì cuộc sống này sẽ đầy rẫy khổ đau và bất mãn.

Nguyện chúc bạn và chúng sinh có thể hoá giải mọi oan kết, tất cả đều chung thủy, yêu thương quý trọng lẫn nhau 🪷

Hành giả Amanda Na Nguyen


Đồng hành và điểm tựa

Ernest Hemingway từng nói: “Bạn không thể cứu bất kỳ ai. Bạn chỉ có thể đứng bên cạnh họ, trao đi sự hiện diện, sự ổn định và bình yên của chính mình. Bạn có thể chia sẻ hành trình, bài học và góc nhìn yêu thương của mình. Nhưng nỗi đau là của họ, con đường là của họ, và câu trả lời cũng phải là của họ. Dù bạn quan tâm đến đâu, bạn không thể che chắn họ khỏi khó khăn hay buộc họ nhìn ra ánh sáng khi họ chưa sẵn sàng.”

Điều bạn có thể làm là trở thành nơi nương tựa trong giông bão của họ. Sự vững vàng của bạn có thể nhắc nhở rằng bình yên vẫn hiện hữu, ngay giữa hỗn loạn. Sự hiện diện của bạn có thể giúp họ cảm nhận rằng họ không đơn độc. Nhưng việc chữa lành? Đó là hành trình của riêng họ. Sự thay đổi thực sự chỉ đến từ bên trong. Bạn không thể gánh thay nỗi đau của họ, vì như thế sẽ lấy đi sức mạnh và sự trưởng thành mà họ có được từ chính thử thách của mình.

Yêu thương một người trong nỗi đau của họ là tôn trọng hành trình của họ, dù đôi khi khó lòng chứng kiến. Đó là giữ khoảng cách đúng mực, không kiểm soát kết quả, và tin rằng họ đủ mạnh mẽ để tìm thấy con đường riêng. Bạn có thể động viên, chia sẻ và cảm thông, nhưng sự trưởng thành của họ cần đến những quyết định, những lần vấp ngã, và cả những bước đột phá từ chính họ.

Sẽ có lúc bạn cảm thấy bất lực trước nỗi đau của người khác, nhưng hãy nhớ: vai trò của bạn không phải là sửa chữa họ. Vai trò của bạn là yêu thương, hỗ trợ, và tin tưởng họ. Đôi khi, tình yêu lớn nhất là biết lùi lại, buông bỏ mong muốn can thiệp, và tin rằng họ sẽ tìm ra ánh sáng – ngay cả khi con đường của họ khác xa những gì bạn hình dung.

Khi buông bỏ áp lực phải cứu giúp, bạn giải thoát cho cả bản thân lẫn họ. Bạn trao cho họ cơ hội đối mặt và trưởng thành, còn bạn giữ được năng lượng để làm chỗ dựa bình yên thay vì cạn kiệt trong cố gắng vô ích.

Vậy nên, hãy hiện diện. Hãy tử tế. Hãy cảm thông. Nhưng cũng hãy hiểu rằng trưởng thành, chữa lành và bình yên là điều họ phải tự mình giành lấy. Món quà quý giá nhất bạn có thể trao là sự cân bằng, ánh sáng và niềm tin rằng họ đủ sức vượt qua. Bởi vì họ có thể. Và khi làm được, sức mạnh đó sẽ càng ý nghĩa hơn bởi nó đến từ chính họ.

Bạn đã học được gì từ việc để người khác tự bước đi trên hành trình của họ?

Nguồn bài và ảnh: Matrixeducation

Dịch bởi #LiliPham



Thứ Hai, 23 tháng 9, 2019

Trí tuệ cảm xúc

Tủ sách mở của Cánh Buồm: https://canhbuom.edu.vn/sachmo/

Khác IQ là bẩm sinh, EI có thể học và phát triển

Hatvey Deutschendorf

Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Thông báo Tương Lai của Công Ăn Việc Làm, Trí năng Xúc cảm (Emotional Intelligence, viết tắt là EI) sẽ nằm trong 10 phẩm chất của công việc năm 2020. Tại sao các xí nghiệp lại đặt nặng phẩm chất này so với tính năng kỹ thuật, và chỉ số thông minh IQ?

Một trong những định nghĩa phổ cập của EI là ‘’khả năng nhận biết, phân biệt và quản lý xúc cảm của mình và xúc cảm của những kẻ khác trong môi trường làm việc’’.

Trong phần lớn thế kỷ 20, chúng ta giả định rằng những người linh lợi nhất, những kẻ có IQ cao nhất, phần lớn thường là thành tựu. Đây là cách chúng ta nghĩ trong thời gian còn đi học. Tuy nhiên, sau những buổi họp mặt cựu học sinh, nhiều người nhận thấy điều đó không hẳn đúng.

‘’Khi giao tiếp với đồng loại, hãy nhớ cho rằng chúng ta không chỉ giao tiếp với những sinh vật thuần lý trí. Chúng ta còn giao tiếp vối những sinh vật có xúc cảm’’ – DALE CARNEGIE.

Dĩ nhiên, có IQ cao – tức đạt chỉ số xác nghiệm thông minh lớn – là một chuyện tốt. Nhưng những nhà khoa học nhân văn nay xác quyết rằng yếu tố hội nhập xã hội là một yếu tố của sự thành công, và mọi con người sinh ra đều có khả năng phát huy EI tiềm ẩn. Khả năng này có thể hoặc được phát triển hoặc bị thui chột tùy theo điều kiện và sinh hoạt trong cuộc sống. Tuy nhiên, điều thần kỳ là với nhận thức và cố gắng, chúng ta có thể xây dựng và kiến tạo EI từ bất cứ vị thế nào.

Năm 1990, hai giáo sư người Mỹ Peter Salovey và John Mayer định nghĩa EI như sự ‘’tự biết mình’’, yếu tố có ảnh hưởng lớn trên cách hành xử và thành tựu trong cuộc sống con người hơn là khả năng thuần lý trí.

Năm 1995, nhà báo chuyên về khoa học Daniel Goleman nới rộng khái niệm EI trong công trình Emotional Intelligence: Why It Can Matter More than IQ (Trí năng Xúc cảm: Tại sao nó quan trọng hơn IQ). Cuốn sách này nằm trong bảng best-seller gần 2 năm liển và được dịch qua 40 ngôn ngữ. Goleman chú ý đến 3 lớp lang của EI: (1) EI ở mức độ nhận thức được EI của người khác; (2) Cảm xúc được những xúc cảm của tha nhân; và (3) hiểu động cơ và xúc cảm người khác đến mức tạo ra được mối liên hệ tin cậy và tương kính với nhau.

Cuốn sách này đã khởi động nhiệm vụ nuôi dưỡng EI của chính tôi và giúp mọi người phát triển EI của họ. Phút giây tỉnh ngộ đến với tôi khi đọc một đoạn ngắn trong cuốn sách của Goleman, nói rằng, ‘’sự thông minh có thể biến mất khi xúc cảm khởi động’’. Khi đó tôi biết tôi đã khám phá một điều gì đó thâm sâu và mạnh mẽ đã thay đổi đời tôi. Tìm đọc mọi chuyện liên quan đến EI, tôi tránh đi lạc trong cách nghĩ và cách ứng xử với tha nhân. Tôi thay đổi và trưởng thành. Rồi tôi viết cuốn sách có tên là The Other Kind of Smart: Simple Ways to Boost Your Emotional Intelligence for Greater Personal Effectiveness and Success (Khôn ngoan kiểu khác: phương cách đơn giản để phát huy EI nhằm trở nên hữu hiệu và thảnh công). Cuốn sách được dịch ra tiếng Việt, Ả Rập và tiếng Tàu. Vài năm trước, tôi tham dự Toastmasters World Championship of Public Speaking với một bà bạn. Bà ta bảo để có phiếu bà bầu cho một diễn giả nhân tham gia cuộc thi hùng biện, anh ta phải nói làm sao cho bà phát khóc. Những kẻ vào chung kết cuộc thi đều giỏi, nghệ thuật điêu luyện, giọng điệu trầm bổng, nhấn mạnh đúng chỗ… Nhưng người thắng giải là kẻ có khả năng tạo được ‘’ liên hệ xúc cảm’’ với những giám khảo cuộc thi.

Diễn giả phát ngôn không buộc phải tạo liên hệ xúc cảm qua những chuyện bi thảm; một trình bày vui nhộn chọc cười người nghe có khi có tác động tốt hơn. Khi người nghe chúng ta nói, họ phản ứng qua những xúc cảm mà diễn giả tạo ra như những quan hệ, mục tiêu để chia sẻ, và cả những quan hệ và kết nối có thể sẽ kéo dài sau cuộc gặp gở sơ khởi ban đầu. Đại học Havard gần đây thông báo kết quả một nghiên cứu trong 75 năm về những dự báo khả tín của hạnh phúc. Kết quả là gì? Đó là sự liên kết giữa ta với người khác, một nguyên tắc cơ bản của EI. Nhiều nghiên cứu đã xác quyết vai trò của EI trong sự thành công trong công việc, và yếu tố này khiến nhiều xí nghiệp tìm người sở hữu EI hơn là chỉ có những năng khiếu kỹ thuật khác.

Bắt đầu với Đồng cảm
Đồng cảm là bản chất của EI và là khả năng duy nhất dẫn lộ cho thế giới hôm nay theo nhiều nghiên cứu của Development Dimensions International (Chiều kích Phát Triển Thế Giới). EI thể hiện qua khả năng lắng nghe, cách ứng xử tôn kính, và sự tế nhị trước áp lực, phán xét cẩn trọng và cởi mở với phản ứng của đối tác.

‘’Người sở hữu EI có thể hòa nhập và làm việc với những người khác’’

Ở nơi làm việc, trong một tổ chức hay qua quan hệ cá nhân, khi chúng ta cảm thấy được hiểu, được đánh giá và quí trọng, chúng ta muốn đóng góp và bảo vệ một môi trường có thuận lợi như vậy cho chúng ta. Cảm nhận này động viên chúng ta làm việc nhiều hơn và vượt qua những nhu cầu cá nhân trước mắt. Cảm nhận như vậy khiến sự gắn bó của nhưng thành viên tăng lên và khai mở ý nghĩa ‘’thuộc’’ vào một tập thể đến mọi người.

Thành viên một đội bóng đoạt chiến thắng vui mừng ôm khen đồng đội khi sút vào phá lưới. Anh ta cũng lộ vẻ lo lắng khi đồng đội bị thương, gặp khó khăn, hoặc đá không chuẩn. Chính vì sự quan tâm nói chung này khiến mọi cầu thủ đẩy xa hơn giới hạn của mình, hiểu rằng nếu không đạt được mong muốn cá nhân thì đồng đội của mình vẫn tiếp tục trợ giúp ủng hộ.

Nghệ thuật lắng nghe
Ernest Hemmingway viết ‘’Tôi thích nghe. Tôi học được rất nhiểu khi lắng nghe. Phần lớn người ta không bao giờ nghe’’. Để thực sự kết hợp với người khác đòi hỏi ta phải biết nghe. Và mọi người đều muốn được người khác nghe mình, Phần lớn những nhà lãnh đạo hiểu nhu cầu này và tìm cách làm cho người dưới quyền cảm thấy đuợc nghe và được trọng thị.

’’Sự đồng cảm là một yếu tính quan trọng, nếu không nói là quan trọng bậc nhất, trong những yếu tính của lãnh đạo’’

Đây là 5 phương cách trau dồi nghệ thuật lắng nghe.

Hiện diện triệt để. 
Hãy bỏ điện thoại xuống và đừng cố trả lời trong khi người đối thoại với bạn đang nói. Nếu có một vấn đề khác cần quan tâm, hãy để cho người đối thoại biết khi nào bạn có thể tập trung vào vấn đề đó. Người lắng nghe là kẻ biết học từ đối thoại trao đổi. Người muốn nghe vì họ không muốn hụt dịp học hỏi với người khác.

Xỏ chân vào giày người khác. 
Người biết nghe cố tưởng tượng tại sao kẻ đối thoại lại nghĩ hoặc cảm nhận theo cách anh ta, Một người có thẩm quyền trong địa hạt là Stephen Covey phát biểu ‘’ Hãy trước tiên tìm cách hiểu người khác, sau mới tới mình được hiểu’’

Để cho diễn giả biết bạn hiểu.
Hãy nắm những điểm chốt. Tôi là người thiếu tập trung nên nghe không phải là không cần cố gắng. Tôi thường nhó dăm điểm chính tôi lập lại để diễn giả biết tôi chú ý. Và khi không hiểu điều gì, tôi hỏi. Quan trọng là diễn giả biết tôi cố gắng tập trung để nghe.

‘’Mọi người đều có ước muốn được nghe. Kẻ làm lãnh đạo biết thế…và làm sao ai ai người ta cũng có cảm tưởng được lắng nghe và trọng thị’’

Thực hành chủ động Lắng Nghe 
Tưởng tượng bạn đang bị thẩm tra xem bạn nghe một người khác. Anh ta nói và bạn tập trung nghe diễn ngôn. Bạn sẽ thấy rất dễ tập trung để nghe khi bạn không nghĩ đến chuyện phải đối đáp.

Giám tuyển [curate] sự tò mò
Người tò mò thấy rằng mọi cuộc đối thoại đều là những cơ hội để học hỏi. Những người ta gặp gỡ đều có điều chi dạy cho ta. Và khi ta tò mò muốn nghe  ta sẽ nghe một cách cẩn trọng hơn.

Người đời trông chờ kẻ làm lãnh đạo xác định đâu là giá trị quan trọng cho một tổ chức, Nếu họ cảm thấy những người lãnh đạo quan tâm đến những phương diện khác trong đời sống của họ, họ sẽ đáp ứng và vượt khỏi những gì lãnh đạo kỳ vọng.

Chỉ số IQ cao là điều tuyệt vời, nhưng EI rất đáng quí trong cuộc sống. Nó cho phép ta hiểu chính ta, giao lưu kết hợp với người khác, và nổi trội trong giao tiếp và lãnh đạo.

Nam Dao chuyển ngữ
24/07/2010
Nguồn: https://www.toastmasters.org/magazine/magazine-issues/2019/july/emotional-intelligence


Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

Nghệ thuật của những khoảnh khắc chú tâm


Trong một lần nói chuyện, tôi đã hỏi
- Văn hoá của trường bạn là gì?
- Văn hoá của trường tôi là Yêu Thương và Tôn Trọng.
- Bạn làm thế nào để dạy văn hoá Yêu Thương và Tôn Trọng?
- Chúng tôi đã làm A, B, C….
- Vậy trẻ và giáo viên ở đây có nhận ra/ ý thức được những khoảnh khắc mà họ ĐƯỢC YÊU THƯƠNG và TÔN TRỌNG, hoặc những khoảnh khắc mà họ đang YÊU THƯƠNG và TÔN TRỌNG người khác không? 
- …………

🍁 Ta thường dạy văn hoá và đạo đức nhà trường bằng cách kể những câu chuyện: “Như thế này là yêu thương, như thế này là tôn trọng, cần phải làm thế này, thế này…”, và ngược lại “như thế này là không đúng với văn hoá yêu thương, tôn trọng, không được làm thế này, thế này…”. Ta cũng thường tập trung quá mức vào việc mô tả, phân tích, xử lí những trường hợp cư xử sai văn hoá và đạo đức. Cách tiếp cận này chỉ dùng để khắc phục những cái sai đã xảy ra. Cách tốt hơn nữa là ta nên gieo trồng những điều đúng.

🍁 Sau một tiết học về yêu thương và tôn trọng, giáo viên thường tập trung chú ý những trẻ chưa cư xử đúng để điều chỉnh cho trẻ cư xử hợp với văn hoá. Trẻ cũng từ đó hay chú ý để "méc" cô những bạn khác chưa cư xử yêu thương và tôn trọng.

🍁 Ta chưa từng nghĩ đến việc sau một bài học, ta sẽ hướng dẫn trẻ chú tâm tìm khoảnh khắc trẻ ĐƯỢC YÊU THƯƠNG TÔN TRỌNG và ngược lại. Điều này quả thật rất đơn giản, theo một cách triển khai ở BeeBlue, chúng tôi sẽ có 2 lọ “tình yêu của mình” (lọ 1), và “tình yêu của người khác” (lọ 2).

❤️ Bất cứ khi nào, trẻ nhận thức được bản thân đang thể hiện một điều yêu thương, trẻ sẽ bỏ một mảnh giấy vào lọ 1. 
❤️ Bất cứ khi nào, trẻ quan sát được người nào đó đang thể hiện một điều một yêu thương, trẻ sẽ bỏ một mảnh giấy vào lọ 2.

🍁 Trẻ có thể làm việc này bất cứ lúc nào trong ngày, làm bao nhiêu lần cũng được. Khi trẻ có sự chú tâm để nhận thức những khoảnh khắc của tình yêu, trẻ sẽ hiểu đâu là tình yêu, nhận thức rằng mình nhận được nhiều yêu thương, mở rộng cảm xúc tích cực với cuộc sống. Và đó là Giáo Dục Tích Cực. Thay vì tập trung suy nghĩ về những điều tiêu cực, để rồi luôn cảm thấy mình chưa được yêu thương và tôn trọng đủ, ta hãy dành sự chú tâm cho những khoảnh khắc tích cực để cảm nhận rằng có nhiều yêu thương trong cuộc sống này.

🍁 Giáo Dục Tích Cực không chỉ thực hiện với trẻ, đối tượng của Giáo Dục Tích Cực là cả giáo viên và phụ huynh. Mọi đối tượng đều được yêu cầu dành sự chú tâm của bản thân để nghĩ về những khoảnh khắc tích cực trong cuộc sống. Tâm hồn mỗi người là một khu vườn, nếu có cỏ dại mọc trong vườn cũng là chuyện bình thường. Nhổ cỏ (sửa những điều sai) thì cũng được thôi, nhưng muốn vườn đẹp hơn thì ta nên trồng hoa (gieo trồng những điều tốt).

🍁 Giáo Dục Tích Cực không dạy trẻ luôn luôn vui cười, hay nghĩ rằng đời luôn đẹp. Khi một câu chuyện buồn xảy ra, Giáo Dục Tích Cực cũng không nói rằng hãy nghĩ đến khía cạnh khác của câu chuyện và vui lên. Chuyện buồn thì mình phải buồn thôi. Chỉ là thay vì dồn hết sự chú ý cho câu chuyện buồn, ta hãy dành thời gian quan sát xem có khoảnh khắc nào tích cực trong cuộc sống này.

🌈🌈🌈 Nghệ thuật của những khoảnh khắc chú tâm là vậy!!!


Giáo Dục Tích Cực - dựa trên điểm mạnh


Giáo Dục Tích Cực là sự kết hợp của Giáo Dục truyền thống và Giáo Dục Hạnh Phúc. Giáo Dục Tích Cực nhấn mạnh rằng việc huấn luyện tinh thần cũng quan trọng như việc giảng dạy kiến thức.

Giáo Dục Tích Cực dựa trên ba trụ cột lý thuyết chính
✅ Mô hình hạnh phúc PERMA của Martin Seligman.
✅ 24 điểm mạnh nhân cách của Chris Peterson.
✅ Lý thuyết xây dựng và mở rộng cảm xúc tích cực của Barbara Fredrickson.

Mỗi trường học đều có một triết lý giáo dục, lấy một số giá trị làm giá trị cốt lõi để phát triển. Trước Giáo Dục Tích Cực, nhiều trường học cũng dựa theo một triết lý nào đó, để giáo dục phát triển nhân cách kết hợp với giáo dục văn hoá. Tuy nhiên, việc giáo dục nhân cách chỉ áp dụng trong một vài giá trị cốt lõi bị giới hạn bởi tôn giáo, văn hoá, hay chính trị.

🍁 Ngược lại, 24 điểm mạnh nhân cách, chia làm 6 lớp nhân đức của Chris Peterson là một tập hợp đầy đủ, vượt qua khỏi mọi sự khác biệt về tôn giáo, văn hoá, lịch sử. Mỗi cá nhân đều được tạo cơ hội để nuôi dưỡng 24 điểm mạnh nhân cách này, từ đó họ sẽ có một một sức khoẻ tâm thần bền vững, và có khả năng SỐNG HẠNH PHÚC.

🍁 HẠNH PHÚC trong Giáo Dục Tích Cực được định nghĩa cụ thể bằng mô hình PERMA của Martin Seligman, chỉ rõ những thành phần của Hạnh Phúc, và làm thế nào để đạt được từng phần của Hạnh Phúc.

🍁 Giáo Dục Tích Cực là ứng dụng của Tâm Lý Học Tích Cực vào Giáo Dục, nên cách giảng dạy của Giáo Dục Tích Cực là giảng dạy để nuôi dưỡng, nhận diện những điểm mạnh, điều tốt đẹp, chứ không phải giảng dạy để khắc phục điểm yếu. Vì vậy, Giáo Dục Tích Cực còn được gọi là Giáo Dục dựa trên điểm mạnh.

Mục tiêu của Giáo Dục Tích Cực là tạo ra những cá nhân HẠNH PHÚC và THÀNH CÔNG. Cuối cùng thì, giáo dục là niềm vui được cắp sách đến trường, là ánh sáng văn minh, là ca tụng nhân bản.


6 LỚP ĐỨC TÍNH và 24 ĐIỂM MẠNH TÍNH CÁCH

✅✅✅ Trong khuôn khổ của Tâm lý học tích cực, Dr Martin Seligman cùng các cộng sự đã nghiên cứu tất cả các truyền thống tôn giáo và triết học lớn trên thế giới để nhận thấy rằng 24 điểm mạnh tính cách, chia làm 6 lớp đức tính dưới đây được chia sẻ rộng khắp bởi tất cả các nền văn hóa trong suốt ba thiên niên kỷ qua.

✅✅✅ 24 điểm mạnh tính cách được sử dụng thế nào trong Giáo Dục Tích Cực?
🌱🌱 Giáo viên, phụ huynh, học sinh hiểu các hành động gắn liền với từng điểm mạnh tính cách, định nghĩa, nhận diện được điểm mạnh tính cách.

🌷🌷 Giáo viên, phụ huynh, học sinh gọi tên được điểm mạnh tính cách của bản thân. Mỗi người sử dụng điểm mạnh của mình để sống, dạy và học. 

🌻🌻 Phát triển bản thân bằng cách nuôi dưỡng điểm mạnh, đồng thời sử dụng điểm mạnh để nâng cao điểm chưa mạnh. 

🌼🌼 Sử dụng điểm mạnh của mỗi người để đối thoại, cư xử, làm việc với nhau.

✅✅✅ Chúng tôi đã làm như thế nào?
🌱🌱 Định nghĩa điểm mạnh Ham Hiểu Biết bằng các hành động: quan tâm đến mọi thứ, luôn đặt câu hỏi, để ý chi tiết, muốn biết lí do của mọi việc. 

🌷🌷 Định nghĩa điểm mạnh Bao Dung bằng các hành động: không giữ một mối hận thù, không nhắc lại lỗi của bạn, thể hiện tình cảm sau những lỗi lầm. 

🌻🌻 Qua các hành động của trẻ, đánh giá trẻ có điểm mạnh Ham Hiểu Biết, chưa có điểm mạnh Bao Dung. 

🌼🌼 Phát triển, bồi đắp điểm mạnh Ham Hiểu Biết của trẻ, cung cấp một môi trường, những dự án để trẻ luôn có cơ hội đặt câu hỏi, từ đó trẻ sẽ nâng cao được thành tích học tập bằng chính điểm mạnh tính cách nội tại của trẻ. 

🌞🌞 Hướng dẫn trẻ sử dụng điểm mạnh Ham Hiểu Biết để đặt câu hỏi, để ý chi tiết và tìm hiểu lí do khi một người khác làm điều chưa tốt/ lỗi lầm với trẻ. Từ đó trẻ sử dụng chính điểm mạnh nội tại của mình để hiểu hơn về người xung quanh, có cơ hội nâng cao điểm chưa mạnh là Bao Dung ở trẻ. 

🌈🌈🌈 Và đó chính là Giáo Dục dựa trên điểm mạnh. Cách giáo dục này tràn đầy tinh thần của Giáo Dục Tích Cực - chú tâm vào những khoảnh khắc tích cực. Để hạnh phúc và thành công trong đời, mỗi người nên chú ý bồi đắp điểm mạnh của mình, nâng cao điểm yếu bằng cách sử dụng điểm mạnh. Tính cách của mỗi người là một khu vườn, nếu có cỏ dại mọc trong vườn cũng là chuyện bình thường. Nhổ cỏ (khắc phụ điểm yếu) thì cũng được thôi, nhưng muốn vườn đẹp hơn thì ta nên trồng hoa (bồi đắp điểm mạnh).

Tham khảo: 
Đọc thêm loạt bài về 24 điểm mạnh tính cách tại Page Tâm lý học tích cực


Giáo Dục Tích Cực - PERMA Model – Lý thuyết hạnh phúc


HẠNH PHÚC là gì?
Mục đích của Giáo Dục Tích Cực là để hướng tới một cuộc sống HẠNH PHÚC? Vậy HẠNH PHÚC là gì?

🍁 Hạnh Phúc là một sự lựa chọn.
🍁 Hạnh Phúc là không cần nỗ lực.
🍁 Hạnh Phúc là bằng lòng với hiện tại.
………

Rất rất nhiều những lời khuyên như thế về Hạnh Phúc, nhưng đều không định nghĩa được thoả đáng để nhiều người cùng có một cái nhìn chung về Hạnh Phúc. Muốn giáo dục để hướng tới một cuộc sống Hạnh Phúc, trước hết giáo viên, phụ huynh, học sinh phải có chung một quan điểm Hạnh Phúc được định nghĩa như thế nào? Một người cần như thế nào, cả về thể chất và tâm hồn để được gọi là Hạnh Phúc? Và làm cách nào để đạt được Hạnh Phúc?



Giáo Dục Tích Cực dựa trên Tâm Lý Học Tích Cực để định nghĩa Hạnh Phúc theo mô hình năm mặt của PERMA. Một người được gọi là HẠNH PHÚC khi:

🇵 - Positive Emotions – Trải qua những cảm xúc tích cực trong cuộc sống như vui vẻ, hứng thú, thoả mãn, tự hào,… và tràn đầy tình yêu.

🇪 - Positive Engagement – Là người chơi trong chính cuộc đời của mình, có tư duy hành động, có kế hoạch để làm việc.

🇷 - Positive Relationship – Có những mối quan hệ tin cậy và gắn kết để chia sẻ, trao nhận yêu thương.

🇲 - Positive Meaning – Tìm thấy ý nghĩa trong việc mình làm, trong cuộc sống mình đang chọn lựa, có khả năng hiện thực hoá lí tưởng của bản thân.

🇦 - Positive Accomplishment - Cảm nhận được rằng cuộc đời của mình thành công, tự hào về thành tựu của bản thân.

Và Giáo Dục Tích Cực là một chương trình giáo dục giúp người dạy và người học cùng trải qua 5 yếu tố trên. Giáo Dục Tích Cực đưa ra những chiến lược cụ thể để đo lường và cải thiện năm yếu tố của mô hình P.E.R.M.A, từ đó hướng tới một cuộc sống HẠNH PHÚC.

PERMA Model – Lý thuyết hạnh phúc

🍀 Hạnh phúc là một khái niệm khó định nghĩa. Đôi khi, ta nhìn nó giống như Chén Thánh: thần thoại, tuyệt vời, nhưng có lẽ không thể đạt được. Dù vậy, Tâm Lý Học Tích Cực cho rằng hạnh phúc là kết quả tự nhiên sau khi ta xây dựng niềm an lạc và sự hài lòng với cuộc sống. Dr Martin Seligman đã dành nhiều năm để phát triển một lý thuyết về hạnh phúc. Ông muốn xác định các thành phần xây dựng nên hạnh phúc. Ông đã vẽ ra một mô hình năm mặt của hạnh phúc được gọi là mô hình P.E.R.M.A.

🇵 – Positive Emotion – Cảm xúc tích cực
Khi một người hỏi bạn liệu bạn có hài lòng với cuộc sống này không, câu trả lời của bạn thường phụ thuộc nhiều vào tâm trạng lúc đó. Nếu bạn đang cảm thấy tích cực, bạn sẽ nhìn về quá khứ với một tâm trạng vui vẻ, nhìn ra tương lai với niềm hi vọng, và thưởng thức niềm vui trong hiện tại.

🍀 Tại sao cần cảm xúc tích cực?
Ảnh hưởng của cảm xúc tích cực không chỉ là mang lại nụ cười trên gương mặt. Cảm xúc đó còn giúp ta làm việc và học tập tốt hơn, thúc đẩy sức khoẻ thể chất, làm vững mạnh các mối quan hệ. Nó cũng cổ vũ ta sáng tạo, nắm lấy cơ hội, nhìn ra tương lai với niềm hi vọng cùng tinh thần lạc quan.

Cuộc đời ai cũng trải qua những cung bậc cao và thấp, nhưng ta sẽ làm hại chính mình khi mãi chìm đắm trong những cung bậc thấp. Nếu ta nhìn về quá khứ với ánh mắt hối tiếc và đau khổ, ta sẽ trở nên giận dữ và bi quan. Vì vậy, nhận ra cảm xúc tích cực trong lòng mình là điều vô cùng quan trọng, để từ đó ta có thể thưởng thức hiện tại mà không cần lo lắng hay hối hận.

🍀 Làm thế nào để nuôi dưỡng cảm xúc tích cực?
Điều gì làm ta thấy đời mình tốt đẹp? Đó có thể là dành thời gian cho gia đình, bạn bè, tham gia những hoạt động yêu thích, tập thể dục, đi ra ngoài thiên nhiên, ăn món ngon. Cần chắc chắn ta luôn có thời gian cho những việc đó trong cuộc sống của mình. Nghiên cứu Tâm Lý Học Tích Cực cũng xác nhận có những kỹ năng và bài tập có thể thúc đẩy trải nghiệm cảm xúc tích cực trong ta. Chúng ta có thể học để cảm nhận những cảm xúc này mạnh mẽ hơn, trải nghiệm chúng lâu hơn.

Nhiều người có khuynh hướng tự nhiên là kì vọng điều tồi tệ, nhìn vào mặt xấu, và tránh các rủi ro. Nếu chúng ta học cách nuôi dưỡng những cảm xúc tích cực trong cuộc đời, ta sẽ bắt đầu hi vọng cho điều tốt, nhìn thấy mặt tốt, và học cách nắm lấy cơ hội khi chúng đến.

🇪 – Engagement – Tham gia
Ta sẽ không phát triển khi ta không làm gì cả. Nhưng khi chúng ta bắt đầu tham gia vào chính cuộc đời mình, ta sẽ trở nên hấp thụ. Ta bước vào trạng thái dòng chảy. Trong Tâm Lý Học Tích Cực, dòng chảy được mô tả là trạng thái ngâm mình hoàn toàn vui sướng vào thời điểm hiện tại.

🍀 Tại sao cần tham gia?
Chỉ một từ thôi: quán tính. Khi bạn đang nằm trên giường, thường rất khó để thuyết phục bạn tung chăn và để chân xuống sàn. Bạn lo lắng về cái lạnh. Bạn nằm trên giường, bạn suy nghĩ nhưng không đạt được điều gì. Khi bạn đang chạy, bạn không hỏi điều gì cả. Bạn bay trong không gian: bước chân này trước bước chân kia, và cứ thế, bởi vì nó phải thế. Bạn hấp thụ hoàn toàn trong khoảnh khắc hiện tại.

Không phải mọi người đều thích chạy, có lẽ bạn sẽ cảm thấy điều này khi bạn chơi nhạc, vẽ, khiêu vũ và nấu ăn. Nếu bạn có một công việc mà bạn yêu thích, có lẽ bạn sẽ cảm thấy điều này khi đang làm việc. Chúng ta gần như sử dụng trọn vẹn những tiềm năng độc đáo của riêng mình khi được tham gia vào những hoạt động hấp thụ và gợi cảm hứng.

🍀 Tham gia bằng cách nào?
Hầu hết công việc của Tâm Lý Học Tích cực là để xác định và nuôi dưỡng thế mạnh, đức hạnh và tài năng cá nhân. Khi ta xác định được những thế mạnh lớn nhất của mình, ta sẽ tham gia một cách có ý thức vào những việc mà ta cảm thấy tự tin, có kết quả và có giá trị. Ta cũng sẽ học được những kĩ năng nuôi dưỡng niềm vui và tập trung vào hiện tại. Chánh niệm là một kỹ năng đáng giá, nên được dạy. Sử dụng chánh niệm, bạn học được cách phát triển một nhận thức hoàn toàn và rõ ràng về hiện tại, cả trong thể chất và tinh thần.

🇷 – Relationships – Quan hệ
Con người là một loại động vật xã hội. Chúng ta cần kết nối, tình yêu, sự liên lạc cảm xúc với người khác. Chúng ta nâng cao sự hài lòng của riêng mình bằng cách xây dựng một mạng lưới quan hệ xung quanh, với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, và tất cả những người khác trong cuộc đời ta.

🍀 Tại sao cần mối quan hệ?
“Vấn đề được chia sẻ là vấn đề giảm một nửa”. Hạnh phúc được chia sẻ là hạnh phúc bình phương. Khi ta chia sẻ niềm vui với những người mà ta yêu quí, ta thậm chí còn thấy vui hơn. Và khi ta yêu, ta sẽ trở nên đáng yêu.

Khi ta chỉ có một mình, ta đánh mất nhận thức về thế giới, ta quên rằng người khác có thể có những gánh nặng hơn ta. Nhưng khi ta để mọi người bước vào cuộc sống của mình, ta nhớ cho đi, như cách mà ta nhận lại. Khi chúng ta thuộc về một cộng đồng, ta có một mạng lưới hỗ trợ xung quanh mình.

🍀 Bằng cách nào để có mối quan hệ?
Xây dựng và duy trì mối quan hệ với mọi người là điều quan trọng trong cuộc đời, nhưng nó cũng quan trọng như thế để nhận ra sự khác biệt giữa một mối quan hệ lành mạnh, và mối quan hệ huỷ hoại.

Điểm chính của mọi mối quan hệ là phải cân bằng. Nó không chỉ là bao bọc xung quanh bản thân ta bằng “tình bạn”, mà ta còn phải lắng nghe, chia sẻ, cố gắng duy trì kết nối, và làm cho những kết nối đó mạnh mẽ hơn.

🇲 – Meaning – Ý Nghĩa
Ta làm tốt nhất khi ta dành trọn thời gian của mình cho thứ gì đó, lớn hơn bản thân chúng ta. Nó có thể là lòng trung thành tôn giáo, làm việc tập thể, gia đình, nguyên nhân chính trị, từ thiện, một mục tiêu chuyên nghiệp hoặc sáng tạo.

🍀 Tại sao cần có ý nghĩa?
Nghiên cứu chỉ ra rằng con người thuộc về một cộng đồng và theo đuổi một mục tiêu chung thường hạnh phúc hơn những người không có. Cảm thấy việc mình làm thống nhất với giá trị và niềm tin chung cũng là một điều quan trọng. Ngày qua ngày, nếu ta tin rằng việc mình làm có giá trị, ta sẽ có một cảm giác hạnh phúc và tự tin nghĩ rằng ta đã sử dụng thời gian và năng lực của mình cho những việc tốt.

🍀 Bằng cách nào, việc làm của ta có ý nghĩa?
Bạn đánh giá cao nhất điều gì trong thế giới này? Nó có thể là gia đình, học tập và tôn giáo của bạn. Cũng có thể, bạn cảm thấy mãnh liệt khi nghĩ đến việc giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hoặc bảo vệ môi trường. Khi bạn đã xác định được vấn đề quan trọng nhất với bạn, hãy tìm những người cùng chí hướng, làm việc cùng với họ cho những điều cả hai cùng quan tâm. Bạn có thể tìm thấy ý nghĩa trong cuộc đời sự nghiệp, cũng như trong cuộc sống cá nhân.

🇦 – Accomplishment- Thành tựu
Chúng ta đều được dạy rằng “chiến thắng không phải là tất cả”. Vâng, chúng ta nên phấn đấu vì sự thành công, nhưng thưởng thức cuộc chơi còn quan trọng hơn. Tuy nhiên, đôi khi con người cần chiến thắng. Mục tiêu và tham vọng là để làm gì, khi chúng ta không bao giờ đạt đến chúng. Để đạt được sự hài lòng và niềm hạnh phúc, chúng ta phải nhìn lại cuộc sống của mình với một cảm giác có thành tựu “Tôi đã làm điều đó, và tôi đã làm tốt”.

🍀 Tại sao cần thành tựu?
Tạo ra và làm việc hướng theo mục tiêu giúp chúng ta tham gia và xây dựng niềm hi vọng về tương lai. Những thành công trong quá khứ giúp ta cảm thấy tự tin và lạc quan hơn về những hi vọng cho tương lai. Không có gì là xấu và ích kỉ khi bạn tự hào về những thành tựu của mình. Khi bạn cảm thấy tốt về bản thân mình, bạn dường như chia sẻ những kỹ năng của bạn nhiều hơn. Bạn có động lực để làm việc tốt hơn và gặt hái ở lần sau. Bạn thậm chí còn truyền cảm hứng cho những người xung quanh để đạt được mục tiêu của riêng họ.

🍀 Đạt thành tựu bằng cách nào?
Điều quan trọng là phải đặt cho mình những mục tiêu hữu hình và đặt chúng trong tầm nhìn. Trong tư vấn về Tâm Lý Học Tích Cực, chúng tôi khuyến khích bạn xác định tham vọng, và nuôi dưỡng những thế mạnh mà bạn cần để đạt được chúng. Nuôi dưỡng tinh thần phục hồi sau những thất bại cũng là điều cực kì quan trọng. Thành công không phải luôn đến dễ dàng, nhưng nếu chúng ta còn tích cực và tập trung, chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ khi nghịch cảnh đến.

Nguồn tham khảo:
P.E.R.M.A Model – Well-being theory – https://www.relate.melbourne/well-being-theory
Người tổng hợp: Tanya Chi
Bản quyền dịch: Nhóm Cánh Diều.

Tham khảo các bài viết về P.E.R.M.A Model tại CÁNH DIỀU PROJECT.


Giáo Dục Tích Cực - Một triết lý giáo dục mới


HẠNH PHÚC LÀ MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC

“Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là gì?” - cách đây hơn 10 năm, một phong trào giáo dục đã đi tìm và tìm ra câu trả lời cho riêng mình và đang dần trở thành ngọn cờ mạnh mẽ trong nghiên cứu cũng như thực hành giáo dục trên thế giới hiện nay, đó là phong trào Giáo dục tích cực.

Giáo dục tích cực hướng đến giảm căng thẳng và tăng hạnh phúc cho cả học sinh và giáo viên. 

Trụ cột của một triết lý giáo dục mới

Trong bài báo mở đầu cuốn sách “Handbook of Positive Psychology” (NXB Oxford), cha đẻ của lĩnh vực Tâm lý học tích cực - TS Martin E.P Seligman - đã kể câu chuyện về cơ duyên ông tìm đến và nghiên cứu về lĩnh vực này: Lần đó, Seligman đang nhổ cỏ dại trong vườn thì cô con gái Nikki của ông chạy nhảy xung quanh và ném những nắm cỏ lên không trung, thật cao, thật cao. Khi ông mắng Nikki, cô bé đã nói: “Ba hãy nhớ lại trước sinh nhật lần thứ 5 của con. Lúc đó con là một cô bé không ngừng rên rỉ, khóc lóc. Sau năm 5 tuổi, con đã quyết định ngừng việc đó lại. Và ba à, nếu con đã có thể làm như thế thì ba, ba cũng có thể ngừng lại việc cằn nhằn của mình”. Khoảnh khắc lóe sáng này đã giúp Seligman nhận ra một bài học cho ông và các đồng nghiệp của mình, đó là việc nuôi dạy trẻ nhỏ không đơn giản chỉ là quá trình sửa chữa và khắc phục những điểm yếu của chúng mà (quan trọng hơn) là quá trình nhận ra, ghi nhận và nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp để giúp chúng tìm ra con đường đạt được cuộc sống viên mãn dựa trên những phẩm hạnh này.

Ý tưởng đó đã thôi thúc Seligman tập trung nghiên cứu và mở ra một nhánh mới trong Khoa học tâm lý: Trong 2 năm 1998 và 1999, khi được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học Hoa kỳ (APA), Seligman đã lấy Tâm lý học tích cực làm chủ đề thảo luận và nghiên cứu chuyên sâu. Ông cùng với hai cộng sự thân thiết là Mihaly Csikszentmihalyi và Christopher Peterson đã thiết lập mô hình hạnh phúc PERMA, đưa ra những gợi ý về 5 thành phần giúp kiến tạo nên một đời sống hạnh phúc. Nhóm của ông cũng đưa ra lý thuyết về điểm mạnh nhân cách VIA (Values in action inventory of Strengths), nghiên cứu về 6 lớp nhân đức (Virtue) và 24 điểm mạnh nhân cách (Character strengths) của con người xuyên suốt các nền văn hoá và các thời đại, tôn giáo khác nhau, đưa tới một cái nhìn tích cực và có tính xây dựng về con người, đồng thời giúp mở rộng suy nghĩ hợp tác – phát triển giữa các cá nhân với nhau. Lý thuyết VIA đã được GS.Howard Gardner – cha đẻ của Lý thuyết Đa trí thông minh - đánh giá là “một trong những sáng kiến quan trọng nhất trong Tâm lý học nửa thế kỷ qua”.

Trải qua hơn 30 năm nghiên cứu và thực hành, Tâm lý học tích cực đã được công nhận như một nhánh của Khoa học tâm lý, bổ sung cho những lý thuyết về Bệnh học, để giúp con người không những bù đắp được điểm yếu của họ, trở nên bình thường mà còn có thể hướng tới một đời sống hạnh phúc và an lạc.

Tâm lý học tích cực đã được ứng dụng rất hiệu quả vào giáo dục, tạo ra những can thiệp thực chứng giúp xây dựng Nhà trường Hạnh phúc; Lớp học Hạnh phúc…, từ đó trở thành lý thuyết trụ cột của một triết lý, một phong trào giáo dục mới, đó là Giáo dục tích cực.

Nâng cao cảm nhận hạnh phúc và cải thiện thành tích học tập

Trong một cuộc nói chuyện với thính giả là các nhà giáo dục và phụ huynh, TS Seligman đưa ra 2 câu hỏi:

Câu hỏi 1: Bằng 2 từ, xin mời các bạn hãy nói lên ước muốn về cuộc sống của con bạn sau này.

Với câu hỏi này, có rất nhiều câu trả lời như thành công, vui vẻ, giàu có… Tuy nhiên phần lớn các thính giả có mặt ngày hôm đó đã trả lời rằng họ muốn con mình có một đời sống hạnh phúc, an lạc, và hài lòng.

Câu hỏi 2: Nhà trường hiện tại đang dạy gì cho những đứa trẻ?

Câu trả lời liệt kê hàng loạt các môn học như Toán, Ngôn ngữ, Vật lý, Công nghệ thông tin, hay Lịch sử, Triết học. Những nhà trường hiện đại được nhắc tới ở đây chưa từng có một chương trình bài bản về hạnh phúc để dạy cho học sinh của mình.

Từ hai câu hỏi này, Seligman đã định nghĩa về Giáo dục tích cực như sau: “Giáo dục tích cực dựa trên hạnh phúc của trẻ được xem như một liệu pháp đối phó với trầm cảm, một phương tiện để tăng sự hài lòng trong cuộc sống và như một trợ giúp để học tập tốt hơn và tư duy sáng tạo hơn”.

Ông cho rằng, giáo dục tích cực được xây nên từ một số trụ cột như: Giáo dục dựa trên sự ghi nhận, đánh giá cao và thúc đẩy điểm mạnh của học sinh; Tạo ra những cải thiện có thể đo lường được về hạnh phúc và hành vi của học sinh; Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tham gia vào việc học tập sáng tạo và nâng cao thành tích.

Giáo dục tích cực được thiết kế và triển khai theo nguyên lý của Giáo dục dựa trên bằng chứng, vì vậy không thể thiếu sự đo lường và kiểm tra – đánh giá cả chương trình lẫn kết quả thực hành. Sự đo lường trong Giáo dục tích cực bao gồm 3 thành tố chính:

Thứ nhất: Đo lường Hạnh phúc bằng việc sử dụng các thang đo trong mô hình EPOCH (Kern, Benson, Steinberg, & Steinberg, 2016) đối với trẻ em, và PERMA-Profiler (Butler & Kern, 2016) dựa trên việc phân tích mô hình PERMA và sự tương quan của nó tới cảm nhận hạnh phúc chủ quan và sự hài lòng trong cuộc sống của học sinh, giáo viên và nhân viên trong trường.

Thứ hai: Đo lường về sự “Không hạnh phúc” với các nhân tố như trầm cảm, lo âu, sử dụng các thang đo như Thang đo trầm cảm ở trẻ em (Kovacs, 2004); Thang đo trầm cảm cho trẻ em; Thang đo lo âu dành cho trẻ em và người lớn (Beck, Steer, & Brown, 1996 ; Radloff, 1977). Những nhân tố này được cho là những yếu tố cản trở học sinh đạt được cuộc sống hạnh phúc.

Thứ ba: Đo lường thành tích học tập được tiến hành bằng việc sử dụng điểm thi của học sinh trong các kỳ thi trong năm học hoặc điểm trung bình cả kỳ học/năm học.

Với 3 hình thức đánh giá và đo lường nêu trên, Giáo dục tích cực một lần nữa khẳng định mục tiêu của mình, đó là “Nâng cao cảm nhận hạnh phúc và hài lòng cho học sinh, đồng thời cải thiện thành tích học tập trong nhà trường”.

Hành trình Giáo dục tích cực đã trải qua hơn 10 năm hình thành và phát triển. Cho tới nay, các mô hình trường học đi theo và áp dụng triết lý, chương trình giảng dạy của Giáo dục tích cực đã xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Khá nhiều các bài báo học thuật, các cuốn sách viết về Giáo dục tích cực đã được xuất bản. Hiệp hội Giáo dục tích cực quốc tế (IPEN) cũng được thành lập vào năm 2014, đặt trụ sở tại London. Seligman chính là một trong những người thành lập nên tổ chức này và hiện nay vẫn là thành viên.

Trong bài báo đăng ở Global Happiness Policy Report 2018 – báo cáo của Hội đồng Hạnh phúc toàn cầu (GHC) nhằm cung cấp các bằng chứng và khuyến nghị chính sách về các mô hình tốt nhất để thúc đẩy hạnh phúc - TS Seligman điểm qua một số chương trình; trường học; và các trung tâm giáo dục, nghiên cứu và sức khoẻ tâm thần… đã áp dụng thành công Giáo dục tích cực.

Trong số đó, có trường nội trú Geelong (GGS) của Úc, nơi đầu tiên trên thế giới áp dụng mô hình Giáo dục tích cực vào năm 2008 và thành lập Viện nghiên cứu, giáo dục tích cực vào năm 2014. Đến nay, Geelong đã tổ chức hàng trăm hội thảo và các buổi đào tạo, chuyển giao mô hình giáo dục tích cực cho các nhà giáo dục và các trường học khắp nơi trên thế giới.

Nghiên cứu theo chiều dọc trong vòng 3 năm (2014 – 2016), của Đại học Melbourne đã đánh giá kết quả áp dụng Giáo dục tích cực tại GGS như sau: Cả học sinh Lớp 9 và Lớp 10 trong chương trình Giáo dục tích cực đã cải thiện đáng kể sức khỏe tâm thần (giảm các triệu chứng trầm cảm và lo lắng) và gia tăng sự hạnh phúc (ví dụ, sự hài lòng trong cuộc sống, cảm xúc tích cực…) so với các học sinh trong nhóm đối chứng không tham gia Giáo dục tích cực. Kết thúc 3 năm học, học sinh tại GGS đã báo cáo mức độ hài lòng, hạnh phúc, lòng biết ơn và sự kiên trì cao hơn đáng kể so với học sinh trong nhóm đối chứng.

Bài báo của Seligman còn cho biết, năm 2014, tại thành phố Tăng Thành thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc hơn 10.000 hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm đã được đào tạo về Giáo dục tích cực bởi Trung tâm nghiên cứu Tâm lý tích cực thuộc Đại học Thanh Hoa. Tính đến tháng 10/2017, có khoảng 350 - 400 trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông ở thành phố này đã áp dụng Giáo dục tích cực, với 260.000 học sinh, và 80.000 giáo viên đã được đào tạo về Giáo dục tích cực. Kết quả, theo các báo cáo, Giáo dục tích cực đã giúp các giáo viên nâng cao sự tận tâm với nghề; nâng cao thành tích học tập cho học sinh trong năm 2017 so với các năm trước, đồng thời giảm tỷ lệ học sinh tự tử.

Trong khi đó, cũng theo bài báo, ở Bhutan, Chương trình Giáo dục tích cực được đưa vào dự án Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH). Bộ Giáo dục và Đào tạo Bhutan đã kết hợp với Trung tâm Tâm lý tích cực tại Đại học Pennsylvania để hợp tác phát triển Chương trình giảng dạy GNH nhằm vào mười kỹ năng sống tích cực cho học sinh từ lớp 7 tới 12. Kết quả, Giáo dục tích cực đã đồng thời làm gia tăng sự an lạc và kết quả trong kỳ thi tiêu chuẩn quốc gia cho học sinh (Adler, 2016).

Giáo dục tích cực đã đến Việt Nam

Đánh giá hồ sơ học tập dựa trên việc quan sát và mô tả điểm mạnh của học sinh - phụ huynh cũng tham gia lên lớp như giáo viên, các dự án giáo dục tại trường đều được liên kết với gia đình… đó là những điều khác biệt đang diễn ra tại một ngôi trường áp dụng triết lý Giáo dục tích cực.

Các giáo viên chụp lại những hành động thể hiện tình yêu thương/ lòng tốt của trẻ với người xung quanh, sau đó in ra và triển lãm tại trường vào cuối tháng. Nguồn: BeeBlue House

Các giáo viên chụp lại những hành động thể hiện tình yêu thương/ lòng tốt của trẻ với người xung quanh, sau đó in ra và triển lãm tại trường vào cuối tháng. Nguồn: BeeBlue House

Những yếu tố làm nên Ngôi trường Hạnh phúc

Khi trào lưu Giáo dục mới đang rất thịnh hành tại Việt Nam, cùng với sự nổi lên của các triết lý, phương pháp giáo dục như Montessori, Steiner, Reggio Emilia thì Giáo dục tích cực vẫn còn là một cái tên xa lạ. Khác với những triết lý giáo dục kể trên, Giáo dục tích cực được xây dựng dựa trên nền tảng của Khoa học tâm lý, Giáo dục dựa trên bằng chứng kết hợp với kinh nghiệm thực hành của những nhà chuyên môn.

Tại Việt Nam, hiện nay đã có dự án phi lợi nhuận Cánh Diều được thực hiện từ năm 2017 với Fanpage Tâm lý học tích cực là nơi tổ chức nghiên cứu, dịch thuật và phổ biến kiến thức về Tâm lý học tích cực và ứng dụng của nó vào các mặt của đời sống. Có gần 10.000 độc giả thường xuyên theo dõi Facebook và Website của dự án.

Về Giáo dục tích cực, tại Việt Nam đã có một trường mầm non tư thục nhỏ tại TPHCM tuyên bố đi theo triết lý Giáo dục tích cực nhằm xây dựng một ngôi trường Hạnh phúc theo mô hình PERMA+ (P = Positive Emotion - Cảm xúc tích cực / E = Positive Engagement - Tham gia tích cực / R = Positive Relationship - Mối quan hệ tích cực / M = Positive Meaning - Ý nghĩa tích cực / A = Positive Accomplishment - Thành tựu tích cực / H = Positive Health - Sức khoẻ tích cực).

Chương trình Giáo dục tích cực tại đây đã được triển khai gần một học kỳ dưới sự giám sát và cố vấn từ Hội đồng chuyên môn của trường dựa trên cách tiếp cận Giáo dục dựa trên bằng chứng, có sự đo lường chặt chẽ về các nhân tố: Phát triển cảm xúc xã hội; Mức độ trải nghiệm cảm xúc tích cực và tiêu cực dành cho trẻ em mầm non; Đánh giá sự hài lòng của trẻ; Đánh giá sự hài lòng của phụ huynh và các ý kiến góp ý, đóng góp của họ.

Bảng cảm xúc: Mỗi ngày, trẻ có thể chọn 1 khuôn mặt tương ứng với cảm xúc của mình (vui; buồn; tức giận; sợ hãi..) và giáo viên sẽ dựa vào đó để trợ giúp trẻ tìm ra nguyên nhân của cảm xúc đó. Nguồn: BeeBlue House

Bảng cảm xúc: Mỗi ngày, trẻ có thể chọn 1 khuôn mặt tương ứng với cảm xúc của mình (vui; buồn; tức giận; sợ hãi..) và giáo viên sẽ dựa vào đó để trợ giúp trẻ tìm ra nguyên nhân của cảm xúc đó. Nguồn: BeeBlue House

Bộ hồ sơ giảng dạy tại trường bao gồm hơn 40 mục tiêu, bao trong đó có: Giáo dục cảm xúc cho trẻ, dạy trẻ nhận diện và diễn đạt các cảm xúc thông qua lời nói và hành động; Các ứng xử phù hợp và tôn trọng đối với cảm xúc của người khác; Cung cấp cơ hội cho trẻ được kết nối và làm việc cùng bạn bè một cách tích cực ngoài những giờ trẻ học cá nhân; Hướng dẫn trẻ cách tạo lập và duy trì mối quan hệ, xử lý các xung đột trong quá trình làm việc chung bằng lời nói và hành động tích cực; Hướng dẫn trẻ bộc lộ cảm xúc và thực hành sự trân trọng, lòng biết ơn những gì được trao tặng và tự làm ra trong cuộc sống hàng ngày…

Với mỗi mục tiêu, giáo viên sẽ dùng 03 bằng chứng (kế hoạch giảng dạy, hình ảnh hoặc clip chụp lại hành động của trẻ…) để chứng minh và được hỗ trợ, giám sát bởi Hội đồng sư phạm nhà trường.

Các đoạn phỏng vấn với giáo viên được sử dụng để phân tích hiệu quả của chương trình trên các phương diện: Sự thay đổi tích cực của học sinh, của giáo viên về kỹ năng nghề nghiệp và sự hài lòng trong công việc; Sự thay đổi trong mối quan hệ giữa giáo viên – phụ huynh.
Chương trình được thiết kế thực nghiệm như một nghiên cứu theo chiều dọc. Vì vậy các thang đo, bảng hỏi sẽ được sử dụng trước khi đưa chương trình vào vận hành và được đánh giá lại sau 3 và 6 tháng.

Nguyên tắc “ai cũng có điểm mạnh”

Tại ngôi trường này, triết lý Giáo dục tích cực bao trùm lên toàn bộ những định hướng về xây dựng văn hóa nhà trường, chương trình học, phương pháp giảng dạy và mục tiêu giáo dục. Ngoài ra, Giáo dục tích cực còn là một chương trình được đưa vào giảng dạy trực tiếp.
Việc triển khai Giáo dục tích cực được diễn ra dưới những hình thức sau:

Thứ nhất, các can thiệp Tâm lý học tích cực như “Ba điều tốt”; “Bức thư của Lòng biết ơn”; “Can thiệp hướng tương lai”; “Can thiệp điểm mạnh ” được áp dụng cho toàn trường với mục đích nâng cao cảm nhận hạnh phúc chủ quan và sự hài lòng cho toàn bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường.

Thứ hai, chương trình Giáo dục cảm xúc được đưa vào giảng dạy hàng tuần tại nhà trường như một môn học vừa có tính riêng biệt, vừa có tính kết hợp cho học sinh từ khối lớp Bé – Nhỡ đến Lớn. Cảm xúc cũng trở thành văn hóa lớp học với Bảng cảm xúc, Lọ cảm xúc được đặt tại các lớp giúp trẻ tự mình thực hành hàng ngày, ngoài những tiết học được giảng dạy bởi giáo viên.

Thứ ba, chương trình Giáo dục Nhân cách được tổ chức hàng tháng, mỗi tháng một chủ đề khác nhau, được quy định bởi Vòng quay điểm mạnh, bao gồm 24 điểm mạnh trong lý thuyết điểm mạnh nhân cách VIA như: Dũng cảm, Sáng tạo, Hài hước, Tình yêu học tập, Biết ơn, Bao dung, Tử tế, Tò mò… Chẳng hạn, với chủ đề “Biết ơn”, khối lớp bé sẽ đọc những câu chuyện và học những bài hát về lòng biết ơn. Khối lớp Nhỡ và Lớn sẽ thảo luận về lòng biết ơn; viết những bức thư (học sinh kể - giáo viên ghi lại) thể hiện lòng biết ơn của trẻ với người mà trẻ muốn và gửi đi. Sự ngẫu nhiên của Vòng quay sẽ giúp tránh được việc ưu tiên quá mức cho những nhóm Nhân cách riêng biệt.

Ngoài ra, tại trường, việc đánh giá hồ sơ học tập đều dựa trên việc quan sát và mô tả điểm mạnh của trẻ và dựa trên chính những điểm mạnh đó, giáo viên sẽ lập ra chương trình giáo dục cho toàn trường và từng cá nhân để trẻ phát huy những điểm mạnh vốn có cũng như phát triển những gì chưa biểu hiện mạnh mẽ trong thời điểm hiện tại.

Thứ 4, mối quan hệ Nhà trường – Học sinh – Phụ huynh không chỉ dừng lại ở việc giáo viên trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của trẻ tại lớp. Mỗi tuần, tại ngôi trường này, một phụ huynh sẽ đảm nhiệm làm giáo viên và đến lớp dạy cho toàn bộ học sinh trong trường về một chủ đề bất kỳ (Nấu ăn; Hát; Vẽ; Làm mộc…). Tất cả những dự án giáo dục tại trường đều được liên kết với gia đình như: Dự án “Mang điều tốt về nhà” (Tháng Lòng tốt); Dự án “Mang gia đình đến lớp” (Tháng Tình yêu)… Ngay cả việc đánh giá điểm mạnh của học sinh cũng dựa trên việc kết hợp báo cáo của phụ huynh và giáo viên. Trường còn tổ chức “Đêm ngủ tại trường” giúp trẻ khám phá trường ở một góc nhìn mới và tăng thêm sự gắn bó của trẻ với nhà trường.

Được biết, ngoài ngôi trường mầm non nói trên, ở TPHCM hiện còn có một trường quốc tế lớn cũng đang áp dụng Giáo dục tích cực và sắp tới, một mô hình Giáo dục tích cực mang thương hiệu Việt Nam sẽ được công bố. Mặc dù các trường tư thục và quốc tế đang đi đầu, nhưng điều đó không có nghĩa Giáo dục tích cực không thể triển khai tại các trường công lập với quy mô học sinh lớn, như những gì đang diễn ra ở Trung Quốc, Bhutan, Singapore, và Úc. Các trường học tại Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng triết lý và phương pháp Giáo dục tích cực vào giảng dạy hoặc xây dựng văn hóa nhà trường dưới sự hướng dẫn và đào tạo của đội ngũ chuyên gia.

Nói về vấn đề này, Tiến sĩ Giáo dục Đỗ Thị Ngọc Quyên cho rằng, “Thời gian qua, trong môi trường nhà trường phổ thông đã xảy ra rất nhiều vụ việc nghiêm trọng liên quan tới quan hệ thầy, trò và phụ huynh, trong đó những đứa trẻ chịu sự tổn thương nặng nề. Giáo viên và những người quản lý giáo dục cũng trở thành nạn nhân của sự thiếu nhận thức, hiểu biết về vai trò của giáo dục, về phương pháp giáo dục và sư phạm đúng đắn, dẫn tới những phản ứng và hậu quả từ tiêu cực đến cực đoan của nhiều bên. Nếu họ được trang bị kiến thức về Giáo dục tích cực và công cụ sư phạm đúng đắn, các sự việc đau lòng này đã không xảy ra. Để hạn chế những sự việc như vậy, đồng thời thúc đẩy hiệu quả giáo dục, giáo viên phổ thông rất cần được đào tạo về các phương pháp Giáo dục tích cực.”

Trước khi khép lại bài viết, tác giả xin trích dẫn tâm sự của một cô giáo tại ngôi trường mầm non đang giảng dạy chương trình Giáo dục tích cực nói trên: “Điều đầu tiên giáo dục tích cực mang lại cho tôi và học trò của mình là mối quan hệ tích cực giữa cô và trò. Biết ơn nhau, yêu thương nhau, cùng nhau sáng tạo, cùng nhau kiên trì, cùng nhau dám nói lên và bảo vệ quan điểm của mình, cùng nhau ghi nhận thành tựu, cùng nhìn nhau dựa trên điểm mạnh – đó là những việc tôi và học trò của mình đã và đang cùng nhau.”

Tài liệu tham khảo:

Jeanne Nakamura & Mihaly Csikszentmihalyi, 2002. The Concept of Flow. Handbook of Positive Psychology (pp. 89-105). Oxford University Press, 2002.
Luthans,F.(2002). The need for and the meaning of positive organizational behavior. Journal of Organizational Behavior, 23, 695-706.
Martin E. P. Seligman (2011). Flourish: A visionary new understanding of happiness and well-being. New York, NY: Free Press.
Martin E. P. Seligman, 2018. Positive Education. Global Happiness Policy Report 2018 (pp. 53-73).
Martin E. P. Seligman, 2002. Positive Psychology, Positive Prevention, and Positive Therapy. Handbook of Positive Psychology (pp. 3-12). Oxford University Press, 2002.
Norrish, J. M., Williams, P., O’Connor, M., & Robinson, J. (2013). An applied framework for positive education. International Journal of Wellbeing, 3(2), 147-161.
Park, N., Peterson, C., & Seligman, M. E. P. (2004). Strengths of character and well-being. Journal of Social and Clinical Psychology, 23(5), 603-619.
Tülay Bozkurt (2014). New Horizons In Education: Positive Education And Emerging Leadership Roles Of Counselors. Social and Behavioral Sciences 140 (2014) 452 – 461
Nguyễn Minh Thành